Chương 7
Ông Tư không nghe My nói. Hoặc ông nghe mà không coi đó là lệnh gì đáng nghe, vì cả đời ông, người ta vẫn quen nghe lệnh của ông chứ không phải ngược lại.
- Chú, khoan đã, My nói nhanh, giữ chặt tay áo ông. Mình bấm còi báo động trước, rồi gọi công an, để người ta tới, mình đừng vô một mình.
Ông Tư gạt tay cô ra, nhẹ mà dứt khoát, mắt vẫn không rời bóng tối.
- Chờ công an tới thì trong kho còn cái gì nữa mà giữ, ông nói. Chú trực ở đây là để giữ kho, không phải để đứng ngoài coi trộm nó khiêng đồ đi. Hồi trong quân đội, người ta dạy chú giữ đất thì phải đứng trên đất, không có chuyện đứng ngoài nhìn.
- Nhưng chú có một mình, My nói, và cô nghe giọng mình gấp tới mức gần như van xin. Tụi nó có 2 người, lại có đồ trong tay.
- Thì chú cũng có cây gậy trong tay, ông Tư nói, và ông cười một cái rất ngắn, cái cười của người đã quyết rồi, không ai cản được nữa.
Cô vừa kịp nắm lấy tay áo ông thì ông đã bước qua đống thùng gỗ, cây gậy trong tay giơ lên ngang ngực, đèn pin lia thẳng vào bóng tối. Ánh đèn bắt được 2 bóng người đang khom lưng bên cửa kho phía sau, một người cầm xà beng, một người cầm một vật dài nhìn không rõ, cả 2 đều quay phắt lại khi ánh đèn quét tới. Trong 1 giây, không ai nhúc nhích. Rồi người cầm xà beng chửi thề một tiếng, lao thẳng về phía ông Tư thay vì bỏ chạy.
My đã tưởng tượng ra đủ thứ về đêm nay, nhưng cô không tưởng tượng ra là mình sẽ phải đứng giữa một người đàn ông 62 tuổi cầm gậy và một tên trộm cầm xà beng, trong một cái kho tối om, cô hét lên bảo chú lùi lại, đồ đạc mất còn mua lại được, nhưng ông Tư đã bước tới và không quay đầu. Cô không thể kéo ông ra khi hai tên kia đang áp sát. Cô hét lên, không phải tên ông Tư, mà là một câu cô bịa ra ngay tại chỗ, hét to hết cỡ cho cả cái kho nghe thấy: công an tới rồi, ở ngoài cổng có xe rồi, chạy đi.
Tiếng hét của cô làm tên cầm xà beng khựng lại nửa nhịp. Nửa nhịp đó đủ cho ông Tư vung gậy lên. Cây gậy gỗ của ông đập trúng cổ tay tên trộm, xà beng rơi xuống nền xi măng kêu một tiếng chát chúa. Tên thứ hai lao tới từ bên hông, tay vung vật dài kia, My nhìn rõ đó là một cây tuýp sắt. Ông Tư xoay người, đỡ bằng cây gậy, 2 cây kim loại và gỗ chạm nhau nghe khô khốc. Ông đánh trả, nhanh và gọn, đúng kiểu người đã từng được dạy đánh nhau một cách bài bản từ mấy chục năm trước: không hoa hòe, chỉ đánh vào tay, vào chân, vào chỗ làm đối phương buông đồ. Nhưng ông đã 62 tuổi, và người ta thì có 2 người, trẻ hơn ông ít nhất 20 tuổi mỗi người.
Tên cầm xà beng đã nhặt lại được xà beng, vòng ra sau lưng ông. My lao tới từ phía bên, không kịp nghĩ gì, dùng hết sức đẩy mạnh vào hông hắn, hắn lảo đảo, xà beng vung lên hụt, đập vào thành kệ sắt vang lên một tiếng lớn. Tên cầm tuýp sắt nhân lúc đó vung tuýp lên lần nữa, nhắm thẳng vào vai ông Tư. My quay người, chạy 2 bước tới cửa chòi, chụp lấy bình chữa cháy màu đỏ treo ở vách, giật chốt, xịt thẳng một luồng bọt trắng vào mặt tên đó. Hắn hét lên, buông tuýp sắt xuống, hai tay ôm mặt, ho sặc sụa, lùi lại đâm sầm vào đống thùng gỗ. Bọt chữa cháy trắng xóa phủ đầy áo hắn, đầy sàn, mùi hóa chất nồng nặc khắp kho. Ông Tư nhân lúc đó vung gậy một lần nữa, đánh rơi luôn cây xà beng trong tay tên còn lại xuống nền.
Cùng lúc đó, cô với tay bật công tắc đèn kho ở vách gần nhất. Toàn bộ đèn trong kho bật sáng trưng cùng một lúc. Ánh sáng đột ngột làm cả 3 người đàn ông cùng khựng lại, và trong 1 giây đó, My nhìn rõ mặt 2 tên trộm: 2 gương mặt trẻ, non choẹt, không có vẻ gì của dân trộm chuyên nghiệp, chỉ có vẻ của 2 đứa đang liều vì túng quá. Cô hét tiếp, lần này là hét về phía cổng kho, giọng chắc nịch như thể ngoài đó thật sự có người: vô đi, nó ở trong này nè, bắt hết lại.
2 tên trộm nhìn nhau, rồi nhìn ánh đèn sáng trưng, rồi nhìn ông Tư vẫn còn cầm gậy đứng chắn trước cửa kho, và chúng bỏ chạy. Chúng chạy về phía hàng rào tôn bị cong ở phía sau, chui qua chỗ tôn hở, biến mất vào bóng tối của bãi đất trống. Tiếng bước chân của chúng xa dần, rồi mất hẳn. My đứng giữa kho, thở hổn hển, tay vẫn còn run vì cú đẩy vừa rồi.
- Chú không sao chứ, cô quay sang hỏi ông Tư.
Ông Tư không trả lời. Ông đang đứng yên, một tay vẫn cầm gậy, tay kia ôm lấy ngực trái, mặt tái đi từng chút một dưới ánh đèn kho. Ông thở gấp, ngắn, môi mím chặt, mồ hôi túa ra trên trán dù đêm nay trời không nóng. My nhận ra ngay cái dáng đó, không phải dáng của người vừa đánh nhau mệt, mà là dáng của một người đang bị cái gì đó bóp chặt trong lồng ngực. Cô đỡ lấy khuỷu tay ông, dìu ông ngồi xuống bậc thềm xi măng ở cửa kho, nói nhanh, giọng bình tĩnh như giọng cô vẫn dùng với những người gọi tới tổng đài lúc nửa đêm: chú ngồi xuống, thở chậm với con, hít vô bằng mũi, thở ra bằng miệng, từ từ thôi, không có gì gấp nữa hết, trộm chạy rồi.
Ông Tư ngồi xuống, làm theo lời cô một cách máy móc, hít vô, thở ra, hít vô, thở ra. Dần dần, hơi thở của ông đều lại, sắc mặt bớt tái. Cô nói tiếp, vẫn bằng cái giọng đó, kể cho ông nghe chuyện một bà cụ cô biết, đêm nào cũng cần nghe tiếng người cho đỡ sợ cái nhà vắng, vì cô biết giữ một người đang hoảng thì không phải là nói những câu to tát, mà là nói những câu bình thường, đều đều, cho người ta có cái mà bám vào. Ông nghe, gật đầu, rồi ông kể lại, giọng đã đỡ run: vợ ông mất 3 năm trước vì bệnh tim, mất ngay trong đêm, ở nhà một mình, sáng ra hàng xóm mới phát hiện. Từ đó ông sợ nhất không phải là trộm, không phải là c.h.ết, mà là c.h.ết mà không ai biết, không ai ngồi bên cạnh. Ông nói xong thì im, nhìn ra bãi đất trống tối om, và My hiểu vì sao đêm nay ông cứ nhất quyết phải xông vào đánh nhau với trộm: ông không giữ kho, ông đang giữ cái cảm giác mình vẫn còn có ích, vẫn còn là người có thể đứng ra trước một chuyện bất bình, như hồi ông còn trẻ, như hồi vợ ông còn sống và còn la ông vì cái tật đó.
Ông nhìn cô, cười gượng, nói chú già rồi mà còn ham đánh nhau, hồi còn trong quân đội, cấp trên dặn gặp trộm thì giữ người, đừng giữ của, vậy mà nãy giờ ông quên sạch. Ông nói, ông ra kho trực đêm cho đỡ nhớ nhà, mà đêm nay ông mới thấy, có khi ông trực đêm không phải để giữ kho, mà để có người ở bên mình lúc nửa đêm, dù chỉ là một người trực cùng ca mà ông còn chưa nhớ tên.
My ngồi bên cạnh ông, không nói gì, chỉ giữ nguyên bàn tay đang đặt trên vai ông. Cô nhìn đồng hồ trong chòi bảo vệ: 4 giờ 12 phút. Còn 48 phút nữa mới tới 5 giờ, và người đàn ông này vừa trải qua 2 thứ có thể lấy mạng ông trong cùng một đêm: 2 tên trộm và một cơn đau ngực làm ông không đứng vững. Cô không biết trong 48 phút còn lại, thứ nào trong 2 thứ đó sẽ quay lại trước. Cô chỉ biết cô không được rời khỏi ông nửa bước, và cô cũng không được nói cho ông biết vì sao.
- Mà em tên gì, ông Tư hỏi, như sực nhớ ra một chuyện quan trọng. Trực với chú mấy đêm rồi mà chú chưa hỏi tên em lần nào.
My cúi xuống nhìn tấm thẻ nhân viên đeo trên cổ tay mình. Cái tên trên thẻ là một cái tên xa lạ mà cô chưa từng đọc kỹ từ lúc bước vào cái kho này tới giờ. Cô đọc to nó lên: Linh. Ông Tư gật đầu, lặp lại cái tên đó một lần, nói tên đẹp, rồi ông nói thêm một câu làm cô phải quay mặt đi: đêm nay mà không có Linh ở đây, chắc chú nằm lại trong kho này rồi, không phải vì trộm, mà vì cái tim của chú. Cô không đáp, vì cô không biết phải đáp sao với một lời cảm ơn gửi nhầm địa chỉ như vậy. Người đàn ông này sẽ nhớ ơn một cô gái tên Linh mà ông sẽ không bao giờ gặp lại, trong một đêm mà chính ông cũng sẽ chỉ nhớ như một đêm trực bình thường có trộm.
Ông Tư uống hết nửa chai nước cô đưa, đứng dậy, phủi bụi trên quần, cầm gậy đi một vòng kiểm tra lại cửa kho phía sau như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Ông khóa lại ổ khóa bị cạy bằng một ổ khóa dự phòng trong chòi, kiểm tra từng kệ hàng xem có mất gì không, rồi quay lại ngồi với cô ở bậc thềm, nói đêm nay chú trực với em mà vui, lâu rồi chú không nói chuyện nhiều như vậy với ai vào ban đêm. My cười, đáp là chú ngồi yên đây với con tới sáng, đừng đi tuần nữa, trộm nó chạy rồi nó không quay lại đâu. Ông gật đầu, nhưng mắt ông vẫn nhìn về phía hàng rào tôn phía sau, nơi 2 tên trộm vừa chui qua.
Trước khi ngồi xuống lại, ông Tư đi một vòng ra phía hàng rào, soi đèn pin vào chỗ tôn cong. Ở đó, ngay dưới chân hàng rào, có một chiếc dép tổ ong còn mới, một chiếc duy nhất, nằm chỏng chơ trên đất. Ông nhặt lên, nhìn một lúc rồi nói, giọng trầm xuống: dép của đứa trộm trẻ, lúc chạy nó tuột mất một chiếc mà không dám quay lại lấy. Ông nói tiếp, như nói cho chính mình nghe: đồ nó bỏ lại, người nó bỏ lại, thể nào nó cũng quay lại lấy, không đêm nay thì đêm mai, không lấy dép thì lấy cái bao tải hàng nó chưa kịp khiêng ra. My nghe, và thấy cái đêm này vẫn chưa xong. Đồ đạc thì cô không lo, cô lo là người đàn ông 62 tuổi vừa qua một cơn đau tim này, nếu trộm quay lại lần nữa, ông sẽ lại xông ra lần nữa, và lần thứ hai thì tim ông chưa chắc chịu nổi.
4 giờ 40 phút, gió đổi hướng, thổi qua bãi đất trống, và tấm tôn bị cong ở hàng rào kêu lên một tiếng cọt kẹt rất khẽ, như có ai vừa chạm vào nó từ phía bên kia. Ông Tư ngẩng đầu lên, tay siết lại cây gậy. My cũng ngẩng đầu lên, và cô nghe tim mình đập nhanh trở lại, vì cô không biết tiếng tôn đó là gió, hay là 2 tên trộm vừa quay lại để lấy cho được thứ mà chúng bỏ dở.
Đọc Truyện Cùng Su