Đọc Truyện Cùng Su
← Làm Dâu Năm 90

Chương 9

Toàn bộ gia tài của con Lụa gói vừa trong một cái tay nải vải xanh: hai bộ bà ba, một cái lược sừng gãy hai răng, một cây kẹp tóc nhựa màu đỏ, và cuốn sổ bìa xanh. Tôi gói lúc trời còn tối, gói chậm, cố không làm sột soạt. Má Tư nằm trên bộ ván, quay mặt vô vách. Bà không ngủ, tôi biết, vì tiếng thở của bà không đều. Anh Lộc thì đã biến đâu mất từ lúc nửa đêm, sau cái câu má nói.

Tôi đứng ở cửa nhà trên một chút, nhìn cái lưng gầy của má dưới tấm mền. Tôi muốn nói một câu gì đó, mà câu nào nghĩ ra cũng là câu sẽ làm má phải quay mặt lại. Ông Bảy Thuốc dặn đừng để bà giận thêm. Nên tôi không nói. Tôi xách tay nải đi ra, khép cánh cửa lại, và lần này không phải tôi chạy, chỉ là tôi không biết ở lại để làm gì.

Con Mực đi theo tôi tới đầu ngõ thì ngồi xuống, không đi nữa. Nó nhìn tôi, rồi nhìn về phía nhà. Tôi hiểu. Có người phải ở lại canh má.

Anh Hai đò không hỏi tôi một câu nào. Anh thấy tôi xách tay nải xuống bến thì đứng dậy, dọn cái mui ghe, trải một chiếc chiếu, đặt một cái gối bằng bao bố nhồi trấu, rồi biểu tôi ngủ đi, anh ngủ trên bờ. Ghe anh Hai đò là cái ghe tam bản, mui lợp lá dừa nước, đậu sát gốc me đầu bến. Nằm trong mui, tôi nghe nước vỗ dưới lườn ghe, nghe tiếng ếch nhái bên kia sông, nghe cả tiếng má con bà bán cháo dưới bến dọn hàng lúc gần sáng.

Tôi không ngủ được. Tôi lấy cuốn sổ ra, mở cây đèn pin nhỏ anh Hai đò để lại, ngồi cộng sổ. Đó là thói quen của tôi mỗi lần có chuyện, ở công ty cũng vậy, cãi nhau với sếp xong là về bàn mở bảng tính ra cộng, cộng tới khi đầu óc yên lại.

Tôi lật tới trang kế hoạch ba mươi ngày, cộng hết những gì đã trả Sáu Lợi, trừ ra khỏi con số năm cây ba chỉ, rồi ghi con số còn lại vô một dòng mới. Còn lại, năm cây hai chỉ. Tôi vừa viết xong chữ chỉ thì cơn choáng tới.

Lần này nó không chớp qua như lần trước. Nó kéo dài. Tôi thấy cái bàn làm việc của tôi ở quận 7, thấy cái laptop còn mở, thấy ly cà phê sữa đóng một lớp váng, thấy điện thoại sáng lên một cuộc gọi nữa, tên người gọi là Má. Rồi tôi thấy cuốn sổ bìa xanh nằm trên bàn, bìa đã bạc, gáy đã bung, đang mở. Trên trang giấy ngả vàng của nó, có một dòng mực đang hiện ra, từng nét một, như có ai vô hình đang viết. Còn lại, năm cây hai chỉ. Nét chữ của tôi.

Tôi chúi về phía trước, đập trán vô cây cột mui ghe. Đau. Cái đau kéo tôi về lại mui ghe, về lại ánh đèn pin vàng vọt. Tôi ngồi thở một hồi lâu, tay vẫn còn cầm cây viết.

Kế toán không tin vào chuyện trùng hợp hai lần. Một lần là bất thường, hai lần là có quy luật. Tôi ngồi lật lại sổ, đọc từng dòng tôi đã viết từ bữa tới đây. Ghi tiền bán bánh, không sao. Ghi chịu, ghi cấn trừ với cô Tám, ghi đặt trước, không sao. Chỉ có hai dòng làm tôi choáng: dòng trả bớt Sáu Lợi ngày mười hai và dòng còn lại tôi vừa ghi. Hai dòng đó đều là món nợ đứng tên con Lụa, đều là con số đang nhỏ lại.

Tôi lật tới trang cuối. Trắng trơn, như đêm đầu tiên. Tôi nhớ cái trang cuối ở quận 7, hai chữ Khóa sổ, nét nghiêng phải, chữ K có cái móc ở đuôi. Tôi cầm cây viết, đưa xuống trang cuối, chậm rãi, như người thò tay vô một cái giếng không biết đáy. Đầu ngòi viết vừa chạm giấy, cả cái mui ghe chao đi. Tôi nghe mùi cà phê sữa, nghe tiếng máy lạnh văn phòng, nghe tiếng chuông điện thoại ở rất gần. Tôi gắng viết chữ K.

Mực không ăn giấy. Nét mực trên trang cuối vón lại thành một giọt tròn, như giọt nước trên lá môn, rồi lăn xuống mép giấy và biến mất. Trang giấy vẫn trắng. Cơn choáng rút đi nhanh như lúc nó tới.

Tôi đặt cây viết xuống, ngồi im rất lâu. Tôi không biết cái gì đang xảy ra với mình, nhưng nghề của tôi dạy tôi đọc sổ, và cuốn sổ này đang nói với tôi rất rõ. Không ai khóa sổ khi sổ còn số dư. Khi nào món nợ đứng tên con Lụa về số không, trang cuối mới chịu nhận mực. Và khi trang cuối nhận mực, tôi sẽ về.

Sáng ra, anh Hai đò đem cho tôi một ổ bánh mì với ly cà phê đen trong cái ca nhôm. Anh ngồi trên mũi ghe hút thuốc, nhìn ra sông một hồi rồi mới nói:

– Hồi khuya Sáu Lợi cho người đi nói khắp chợ, dì Tư mà hông trả thì đầu tháng năm ổng tới lấy nhà. Ổng nói nhà đó cột gõ, ổng lấy thì nợ coi như sạch, bên đó hết dính dáng gì tới ổng. Ảnh rít một hơi thuốc. Lụa, anh hỏi thiệt. Em có tính về bên kia sông luôn hông?

Tôi nhìn ly cà phê. Nợ coi như sạch. Ba chữ đó lăn qua lăn lại trong đầu tôi như cái giọt mực trên trang cuối.

Nếu má Tư giao nhà, món nợ đứng tên con Lụa về số không. Tôi không cần đổ thêm mẻ bánh nào, không cần đòi thêm khoản chịu nào, không cần đứng cãi tay đôi với ai. Chỉ cần ngồi chờ ở cái ghe này hơn chục ngày, cầm cây viết lên, viết hai chữ. Rồi tôi về lại cái bàn ở quận 7, cái máy lạnh, ly cà phê sữa đóng váng, ba bốn cuộc gọi nhỡ. Còn má Tư thì ra đường, ôm cái hũ sành với tờ công thức của ông Tư, đi tìm chỗ nào đó để ở với một trái tim yếu. Còn con Lụa thì tỉnh dậy trong cái thân của nó, ở bên kia sông, với một bà má chồng đã đuổi nó đi và một món nợ đã trả bằng nhà người khác.

Nhà đó đâu phải nhà tôi, tôi nghĩ. Má đó đâu phải má tôi. Tôi tới đây có một tháng.

Tôi nghĩ tới cuộc gọi nhỡ tên Má trên màn hình điện thoại. Ba năm trước, má tôi nằm quay mặt vô vách sau trận cãi nhau, và tôi đã xách giỏ đi ra bến xe ngay chiều đó. Tôi đã tự nói với mình y câu đó, má đó là chuyện của má, nhà đó là chuyện của nhà, tôi có đời tôi. Ba năm nay tôi sống bằng câu đó, sống rất được, có lương, có máy lạnh, có cái đồng hồ nhắc đi ngủ. Chỉ có điều cứ mỗi lần điện thoại sáng tên Má, tôi lại để đó, tính mai gọi.

Tôi nhìn xuống cuốn sổ trên đùi, nhìn cái trang cuối trắng trơn. Nếu tôi về bằng cái nhà của má Tư, hai chữ khóa sổ ở quận 7 sẽ nằm trên một trang giấy mà tôi không bao giờ dám lật tới nữa. Tôi đổ cà phê ra sông, đứng dậy, cột lại cái tay nải.

– Anh Hai, anh chở em qua nhà má được hông?

Anh Hai đò nhìn tôi, rồi dụi điếu thuốc vô mạn ghe, cười một cái thật lớn.

– Anh chở em qua, mà em la anh chèo lệch giống dì Tư thì anh chịu thua.

Chiều đó, tôi về tới sân thì nghe trong nhà có tiếng người nói. Cửa nhà trên mở toang. Tôi dừng lại dưới gốc dừa nghiêng, chưa bước lên thềm. Con Mực nằm ở bậc cửa, thấy tôi thì vẫy đuôi, nhưng không sủa.

Trong nhà, anh Lộc đang quỳ dưới đất trước bộ ván. Má Tư ngồi trên ván, lưng dựa vách, cái mền đắp ngang bụng. Anh Lộc quỳ thẳng lưng, hai tay để trên đùi, đầu cúi thấp. Anh nói, giọng run mà rõ, như người đã tập nói câu này cả đêm.

– Nợ đó là của con, má. Con thua bài từ Tết. Con mượn Sáu Lợi nửa cây để gỡ. Ổng hông cho con đứng tên, con dụ vợ con lăn tay, nói là giấy mua chịu bột. Vợ con biết được, vợ con lấy tiền trong hũ của má đi trả lời cho con, trả hai lần. Bữa mười bốn tháng ba vợ con ôm hũ đi trả, má bắt được, con đứng đó con im. Con im tới bây giờ.

Má Tư ngồi bất động. Tay bà nắm chặt vạt mền.

– Rồi con thua tiếp. Ảnh nói tiếp, nhỏ hơn. Sáu Lợi hỏi nhà mình còn cái gì, con nói má còn chiếc vòng của ba. Con có mở rương, con tính lấy. Con mở ra rồi đóng lại, con hông dám. Con hông dám lấy mà con đã dám nói.

Anh Lộc rút trong túi áo ra một miếng giấy nhỏ, gấp làm tư, bằng bàn tay. Anh mở ra, đặt lên bộ ván, ngay trước mặt má.

– Biên nhận của Sáu Lợi đưa con bữa con mượn. Ổng ký. Nửa cây, má. Con chỉ mượn nửa cây. Năm cây là ổng thêm vô.

Má Tư không nhìn tờ biên nhận. Bà không biết đọc chữ, nhưng bà cũng không nhìn số. Bà nhìn con trai bà rất lâu, nhìn từ cái đầu cúi gằm xuống tới hai bàn tay run trên đùi. Rồi bà nhìn ra cửa, nhìn thẳng ra gốc dừa, chỗ tôi đang đứng. Tôi không biết bà thấy tôi từ lúc nào.

– Lụa, má nói. Vô đây.

Tôi bước lên thềm, vô nhà, đứng bên cạnh anh Lộc. Má Tư chìa tay ra. Tôi đưa tay mình cho bà. Bàn tay bà vẫn lạnh, vẫn gầy, nhưng lần này bà không rút ra. Bà nắm chặt, chặt tới mức tôi thấy được từng đốt ngón tay của bà trắng bệch.

– Tao đuổi lộn người, má nói.

Bà nói câu đó bằng giọng của người đọc lại một con số mình ghi sai, rồi gạch đi. Anh Lộc khóc. Anh khóc không ra tiếng, chỉ có hai vai rung lên từng đợt. Má Tư không vỗ về anh. Bà ngồi đó, một tay nắm tay tôi, mắt nhìn vô tờ biên nhận trên bộ ván, như nhìn một thứ bà sẽ phải học cách đọc.

Đêm đó tôi ngủ lại trên cái chõng nhà sau. Tôi ngủ một giấc dài, lần đầu tiên từ bữa tới đây không mơ thấy gì. Tôi thức dậy lúc trời đã sáng bạch, quá giờ vo bột cả tiếng đồng hồ, và cái nhà im lặng một cách lạ lùng.

Bếp nguội. Bộ ván trống. Cửa buồng má mở toang, cái rương gỗ mở nắp, bên trong cái khăn rằn gói tờ công thức vẫn nằm đó, nhưng cái hộp gỗ nhỏ bằng bàn tay nằm kế bên thì trống rỗng. Tờ biên nhận của anh Lộc vẫn nằm trên bộ ván, bị đè bởi cái bình trà.

Con Mận chạy từ ngoài ngõ vô, thở hổn hển.

– Chị Lụa! Dì Tư đi chuyến đò sớm lên tỉnh rồi. Anh Hai nói dì ôm cái gói nhỏ bọc khăn tay, hỏi ảnh tiệm cầm đồ nào trên tỉnh trả giá cao nhứt, rồi hỏi luôn nhà Sáu Lợi bữa nay có ở nhà hông.