Đọc Truyện Cùng Su
← Làm Dâu Năm 90

Chương 10

– Lệch rồi! Anh Hai, lệch qua trái rồi!

Tôi la câu đó lần thứ tư thì anh Hai đò bỏ dầm xuống, quay lại nhìn tôi bằng con mắt của người vừa phát hiện con dâu nhà bà Tư giống má chồng tới từng chữ. Tôi ngồi ở mũi ghe, tay ôm cuốn sổ với tờ biên nhận kẹp bên trong, mắt dán vô cái chấm đen nhỏ xíu ở khúc quanh phía trước. Cái chấm đó là chiếc đò chuyến sớm, đi trước tụi tôi gần một tiếng đồng hồ, và má Tư đang ngồi trên đó với chiếc vòng vàng của ông Tư bọc trong khăn tay.

– Lụa, ảnh nói, cầm dầm lên lại. Ghe anh là ghe tam bản, hông phải tàu cánh ngầm. Em la nữa là anh bỏ em giữa sông.

Anh nói vậy chớ tay chèo nhanh hơn hồi nãy. Con Mận ngồi giữa ghe, cầm cái gáo dừa tát nước, không nói tiếng nào. Nó nhất định đòi đi theo, nói dì Tư mà có chuyện gì trên tỉnh, một mình chị Lụa hông khiêng nổi.

Tụi tôi cập bến tỉnh lúc mặt trời đã lên cao. Bến tỉnh lớn gấp chục lần bến xóm, ghe xuồng chen chúc, người khiêng hàng la ơi ới. Anh Hai đò ở lại giữ ghe, tôi với con Mận chạy lên dãy phố chợ. Anh Hai nói má hỏi tiệm cầm đồ nào trả giá cao nhứt, mà trên tỉnh ai cũng biết tiệm cao nhứt là tiệm của người Hoa ở đầu dãy phố, có cái bảng hiệu sơn đỏ chữ vàng.

Má Tư ngồi trên một cái ghế đẩu ngay trước cửa tiệm đó. Bà ngồi thẳng lưng, hai tay ôm trước bụng một gói giấy báo cột dây thun, mặt nhìn ra đường như người đang chờ đò. Thấy tôi với con Mận chạy tới, bà không ngạc nhiên. Bà chỉ nhích qua một chút trên cái ghế đẩu, như chừa chỗ.

– Tao cầm rồi, bà nói.

Tôi ngồi xổm xuống trước mặt má, thở không ra hơi. Má mở gói giấy báo cho tôi coi. Một xấp tiền dày cộm, với một tờ giấy cầm đồ in sẵn, có con dấu đỏ. Chiếc vòng của ông Tư cầm được hơn một cây vàng.

– Má tính đem số này tới Sáu Lợi hả má?

– Chớ để làm gì. Bà cột gói giấy báo lại. Năm cây thì tao hông có. Tao đem một cây tới, tao lạy nó, xin nó cho mình trả từ từ. Tao còn cái sạp, còn hai tay. Nhà ông Tư cất, tao hông để nó lấy.

Bà nói rất bình thản, như đã tính xong từ lúc ngồi trên đò. Tôi nhìn gói giấy báo trong tay má, nghĩ tới Sáu Lợi ngồi uống trà, cầm lấy một cây vàng của má, cười, gật đầu, rồi cất tờ giấy năm cây vô tủ sắt như chưa có chuyện gì xảy ra. Một cây vàng đó sẽ chạy thẳng vô cột tiền lời. Và tháng sau, tám phân của năm cây vẫn nằm nguyên đó.

– Má, tôi nói. Con có cái này cho má coi trước đã.

Tôi kéo má về ghe. Trên đường đi, má không hỏi gì, chỉ ôm chặt cái gói giấy báo. Lên ghe rồi, anh Hai đò đẩy ghe ra giữa dòng, chèo chậm, để ba má con ngồi trong mui. Tôi lấy tờ biên nhận ra, mở phẳng trên đầu gối má.

Miếng giấy nhỏ bằng bàn tay, chữ viết mực tím, nét nghiêng, nét chữ của Sáu Lợi. Nhận của Lộc, vàng năm chỉ, ngày mười bốn tháng hai năm một ngàn chín trăm chín mươi. Dưới cùng là chữ ký.

– Má đọc giùm con con số này.

Má nhìn tờ biên nhận. Ngón tay bà dò theo dòng chữ, tới con số thì dừng.

– Năm.

– Dạ, năm. Chữ đằng sau là chỉ. Năm chỉ, tức là nửa cây, má. Giấy nợ của Sáu Lợi cũng ghi ngày mười bốn tháng hai, cũng chữ của ổng, cũng mực tím, mà ghi năm cây. Hai tờ giấy, một ngày, một người viết, một món nợ. Một tờ ghi chỉ, một tờ ghi cây.

Má Tư im. Bà nhìn tờ biên nhận rất lâu, rồi hỏi một câu mà tôi không ngờ bà hỏi:

– Vậy tờ nào là tờ thiệt?

Tôi suýt cười. Đó chính xác là câu hỏi mà kiểm toán viên nào cũng phải hỏi đầu tiên.

– Tờ biên nhận này nằm trong túi anh Lộc từ bữa đó tới giờ, Sáu Lợi hông đụng tới được. Tờ giấy nợ thì nằm trong tủ sắt nhà ổng, ổng muốn sửa lúc nào cũng được. Mà con chưa chứng minh được ổng sửa. Bữa trước ổng đưa con coi, ổng đè một góc, hông cho con cầm. Con phải coi lại tờ giấy đó một lần nữa, coi gần, coi kỹ.

– Nó đâu có đưa.

– Nó sẽ đưa, má. Má đem tiền tới, nó sẽ đưa.

Má Tư nhìn tôi, nhìn gói giấy báo trên đùi, rồi gật đầu, chậm rãi. Lần đầu tiên từ bữa tôi tới đây, má nhìn tôi như nhìn một người đứng cùng phía. Tôi lấy cây viết ra, tính nhanh trên một góc trang. Nửa cây gốc, ba chỉ anh Lộc thua thêm, tiền lời tám phân của mấy tháng trừ đi hai lần con Lụa đã trả và một chỉ tôi trả bữa mười hai. Cộng hết lại, vẫn chưa tới số tiền trong gói giấy báo của má.

Nhà Sáu Lợi ở xóm bên kia chợ. Má Tư đi trước, tôi đi sau, xách theo cây đèn dầu nhỏ tôi mượn của anh Hai đò, dù trời mới quá trưa. Anh Hai với con Mận đứng ngoài cổng sắt. Sáu Lợi đang ngồi uống trà như lần trước, thấy má Tư thì đứng dậy, cười rộng tới mức thấy cả cái răng bọc vàng trong cùng.

– Bà Tư! Bà khỏe rồi hả? Tui nghe nói bà mệt, tui lo quá.

Má Tư không ngồi. Bà đặt gói giấy báo lên bàn trà, mở ra một góc, đủ để Sáu Lợi thấy xấp tiền với tờ giấy cầm đồ có con dấu đỏ. Mắt Sáu Lợi dừng lại ở đó một chút lâu hơn cần thiết.

– Tao đem tới trả bớt, má nói, giọng nhỏ, cúi đầu. Mà tao hông biết chữ, ông Sáu đọc lại giấy cho tao nghe một lần. Tao muốn biết con dâu tao nợ ông bao nhiêu, để tao tính.

Cái giọng má lúc đó tôi chưa từng nghe. Nhỏ, run, khúm núm, giọng của một bà già quê lần đầu vô nhà giàu. Tôi nhìn cái lưng thẳng tắp của má mà phải cắn môi.

Sáu Lợi gật đầu liền. Ông ta đi tới cái tủ sắt sơn xanh, mở khóa, lấy ra tờ giấy học trò gấp làm tư. Ông ta trải lên bàn trà, ngay cạnh gói giấy báo, rồi bắt đầu đọc, đọc lớn, chậm, như người đọc bản án. Ông ta không đè góc giấy nữa. Hai tay ông ta bận chỉ trỏ cho má coi chỗ nào là tên, chỗ nào là số.

– Má, con thắp đèn cho má coi rõ.

Tôi châm cây đèn dầu, đặt sát tờ giấy, nghiêng ngọn đèn cho ánh lửa rọi xiên qua mặt giấy. Sáu Lợi liếc tôi một cái, rồi đọc tiếp. Ông ta tới đoạn số vàng là năm cây, ngón tay đeo nhẫn gõ lên chữ cây hai cái.

Tôi nhìn chữ cây. Dưới ánh đèn rọi xiên, mặt giấy chỗ đó không phẳng như những chỗ khác. Nó lún xuống một chút, xơ xơ, mỏng hơn, như ai đó đã lấy lưỡi lam cạo đi một lớp. Mực tím ở chữ cây đậm hơn chữ năm đứng trước nó, và ở mép dưới, mực đã thấm loang ra một vệt nhỏ, kiểu mực viết lên chỗ giấy bị cạo mỏng thì luôn loang như vậy. Tôi nghiêng ngọn đèn thêm một chút. Dưới chữ cây, lờ mờ, còn một vệt móc cong nhỏ như cái đuôi của một con chữ h chưa cạo sạch.

Tôi ngẩng lên. Sáu Lợi đang nhìn tôi. Ông ta ngưng đọc giữa chừng.

– Con nhìn gì kỹ vậy Lụa?

– Dạ, con coi cho má con biết chỗ nào là số.

Ông ta nhìn tôi thêm một giây, rồi kéo tờ giấy về phía mình, gấp lại làm tư, nhanh hơn lúc mở ra. Má Tư đứng dậy, gói gói giấy báo lại, cột dây thun.

– Ông Sáu cho tao về suy nghĩ thêm ít bữa. Tao gom thêm được bao nhiêu tao đem tới một lần.

Sáu Lợi không giữ. Ông ta tiễn hai má con tới cửa, vẫn cười, nhưng lần này không thấy cái răng bọc vàng.

Ra tới đường, má Tư đi được một đoạn mới hỏi, không quay đầu:

– Sao?

– Ổng cạo chữ chỉ, viết đè chữ cây, má.

Má đi tiếp. Tôi thấy hai bàn tay má siết chặt cái gói giấy báo tới trắng bệch. Rồi má nói, giọng đã trở lại là giọng của má Tư ngồi chợ ba chục năm:

– Đồ khốn nạn.

Tối đó anh Lộc về sớm. Anh không say. Anh bước vô nhà, ngồi xuống đất trước bộ ván, mặt hớn hở như đứa con nít mới làm được một chuyện lớn.

– Má, con tới sòng Sáu Lợi rồi. Con hông có đánh. Con nói thẳng mặt ổng, con có biên nhận nửa cây, ổng đừng hòng ăn hiếp nhà con.

Tôi với má nhìn nhau. Má Tư nhắm mắt lại một chút. Tôi thì đặt cuốn sổ xuống, hỏi anh Lộc thật nhẹ:

– Anh nói vậy lúc mấy giờ?

– Mới hồi chạng vạng. Ổng mặt tái mét. Thằng Hiển đứng kế bên hỏi ổng có cần đi đâu hông, ổng biểu nó sáng mai dậy sớm.

Tôi lấy cây viết, mở cuốn sổ ra trang trắng kế tiếp. Trong đầu tôi, mọi thứ xếp vô từng ô như một cái bảng tính. Sáu Lợi đã thấy tôi nhìn chỗ cạo. Sáu Lợi vừa biết anh Lộc còn giữ tờ biên nhận. Ông ta biết nếu nhà này đem hai tờ giấy ra chợ, ra trước mặt cả xóm, thì ông ta mất không chỉ năm cây vàng, mà mất luôn cái tủ sắt sơn xanh với tất cả những tờ giấy khác nằm trong đó. Một người như Sáu Lợi sẽ không ngồi chờ bị đem ra chợ.

– Anh Lộc, sáng mai anh đi rước ông Chín ghe giùm em. Mận, sáng mai em ghé nhà bà Năm lò bột, nhờ bà với ông Năm ra chợ sớm. Bà Sáu thì em ra sạp là gặp.

– Làm chi vậy chị? Mận hỏi.

– Làm chứng.

Má Tư mở mắt. Bà nhìn tôi ghi tên từng người vô sổ, rồi với tay lấy cái khăn rằn gói tờ công thức của ông Tư trong rương ra, đặt lại lên kệ, kế cuốn sổ bìa xanh.

Ba giờ sáng hôm sau, cả nhà dậy đổ bánh như mọi ngày. Năm giờ, bán xong chuyến đò đầu ở bến, tôi với con Mận gánh hai thúng lên chợ. Còn cách sạp của má chừng ba chục bước, tôi đã thấy một vòng người đứng chật lối đi, đông hơn cả bữa đám cưới nhà ông Ba. Giữa vòng người, ngay trên mặt sạp của má Tư, Sáu Lợi ngồi chễm chệ trong bộ bà ba lụa trắng, chân bắt chéo, kế bên là thằng Hiển. Tờ giấy học trò gấp làm tư được trải phẳng trên mặt sạp, đè bằng hai cái thúng bánh của má.

Má Tư đứng ở mép vòng người, tay không, mặt trắng bệch. Sáu Lợi thấy tôi tới thì đứng dậy, giơ tay lên cao cho cả chợ cùng thấy, nói lớn:

– Bà con coi nè! Con dâu bà Tư nợ tui năm cây vàng, lăn tay rõ ràng. Giờ nó còn tính làm giấy giả để quỵt!