Chương 11
Tôi đặt gánh bánh xuống ngay mép vòng người, chỗ đất còn ướt nước rửa cá. Hai cái thúng nghiêng qua một bên, mấy gói bánh lá chuối lăn ra đất. Con Mận cúi xuống lượm. Tôi không lượm. Tôi đi thẳng vô giữa vòng người, tới đứng bên cạnh má Tư, và nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của bà.
– Giấy giả là giấy nào, chú Sáu?
Sáu Lợi nhìn tôi, nhếch mép. Ông ta chỉ tay xuống tờ giấy học trò đang bị hai cái thúng của má đè hai góc.
– Giấy của tao đây, lăn tay rõ ràng. Con Lụa đi rêu rao khắp xóm là tao sửa giấy. Nó tính làm một tờ giấy khác, giả chữ tao, để quỵt năm cây vàng. Bà con coi, con dâu gì mà mới ôm hũ tiền của má chồng chưa được hai tháng, giờ tính quỵt tới nợ người ngoài.
Vòng người xì xào. Tôi nghe có tiếng ai đó nói con nhỏ này lì thiệt, có tiếng ai đó nói tội nghiệp bà Tư. Cô Tám đứng ở hàng đầu, khoanh tay, gật gù như người vừa được chứng minh mình nói đúng từ đầu. Bà Sáu bán xôi đứng phía bên kia vòng người, nhìn tôi, không nói gì, chỉ gật đầu một cái thật nhẹ.
Tôi biết mình không cãi lại được bằng miệng. Ở đây, giữa cái chợ này, Sáu Lợi nói gì cũng có người tin, vì ông ta mặc bà ba lụa, đeo nhẫn hột, nói chuyện nhỏ nhẹ, còn tôi là con dâu bị bắt quả tang ôm hũ tiền ngoài ngõ. Hồi đi làm, tôi học được một chuyện: khi người ta không tin mình, đừng xin người ta tin. Đưa cho người ta cách tự kiểm.
– Chú Sáu nói con làm giấy giả. Vậy mình nhờ một người biết chữ, hông phải người nhà con, hông phải người nhà chú, coi hai tờ giấy giùm. Bà con chịu hông?
Vòng người im một chút. Rồi có người nói chịu, có người nói phải rồi, coi đi. Sáu Lợi nhìn quanh, thấy cả chợ đang nhìn mình, thì cười lớn.
– Coi thì coi. Mà ai coi? Cái xóm này được mấy người biết chữ?
Tôi đã tính trước câu đó. Từ năm giờ sáng, lúc bán chuyến đò đầu ở bến, tôi đã để dành ba cái bánh nhiều đường cho một người, và nói nhỏ với người đó là sáng nay đừng lên đò vội.
– Thầy ơi, thầy coi giùm con được hông thầy?
Ông thầy giáo đeo kính gọng đen bước ra từ hàng thứ hai, tay còn cầm cái cặp da. Ông đẩy gọng kính lên, nhìn Sáu Lợi, nhìn tôi, nhìn má Tư, rồi gật đầu. Cả chợ ai cũng biết ông, sáng nào ông cũng đi chuyến đò năm giờ rưỡi lên tỉnh dạy học, mười mấy năm nay, chưa ai thấy ông dính vô chuyện gì của ai.
Tôi lấy cuốn sổ trong túi áo ra, rút tờ biên nhận kẹp bên trong, đưa cho thầy. Thầy đọc lớn, chậm, rõ từng chữ cho cả chợ nghe. Nhận của Lộc, vàng năm chỉ, ngày mười bốn tháng hai năm một ngàn chín trăm chín mươi. Thầy lật mặt sau, lật mặt trước, nhìn chữ ký.
– Chữ ký này là của ông Sáu phải hông?
Sáu Lợi không trả lời. Thằng Hiển đứng sau lưng ông ta, liếc quanh, rồi nhích chân về phía mặt sạp. Anh Hai đò với ông Ba cần câu đứng ngay đó, không ai bảo ai, cùng bước lên một bước. Thằng Hiển đứng yên lại.
Thầy giáo cúi xuống mặt sạp, nhìn tờ giấy nợ. Thầy không cầm, chỉ cúi sát. Rồi thầy ngẩng lên, nói với Sáu Lợi bằng cái giọng mà chắc thầy vẫn dùng để nói với học trò không thuộc bài:
– Ông Sáu cho tôi cầm lên coi một chút. Tôi coi xong để lại chỗ cũ.
Sáu Lợi nhìn thầy, nhìn cả chợ đang chờ. Từ chối lúc này thì chẳng khác gì nhận. Ông ta nhấc một cái thúng lên. Thầy giáo cầm tờ giấy lên, đưa ra khỏi mái tôn, giơ thẳng lên trời, chỗ mặt trời buổi sáng đang rọi xiên qua mấy ngọn dừa bên kia sông.
Tờ giấy học trò mỏng, ánh nắng xuyên qua làm nó sáng lên như một miếng giấy dầu. Ngay chỗ chữ cây, có một khoảng sáng hơn hẳn, sáng tới mức nhìn từ chỗ tôi đứng cũng thấy, như ai lấy móng tay cạo mỏng mặt giấy rồi viết đè lên. Thầy giáo đứng im một lúc lâu, nghiêng tờ giấy qua lại. Rồi thầy nói, đủ lớn cho cả chợ nghe:
– Chỗ chữ cây này bị cạo. Dưới lớp mực mới còn dấu chữ cũ, có cái đuôi chữ h. Mực mới đậm hơn chữ năm đứng trước, loang ra vì giấy đã mỏng. Tờ biên nhận ghi năm chỉ, cùng ngày, cùng nét chữ. Tôi dạy học mười bốn năm, tôi chấm bài cũng gặp học trò cạo điểm kiểu này hoài.
Có ai đó trong vòng người bật cười. Rồi một người nữa. Cô Tám ở hàng đầu từ từ thả hai tay đang khoanh xuống.
– Thằng thầy giáo này, Sáu Lợi nói, giọng không còn nhỏ nhẹ nữa. Mày biết gì mà…
– Tui biết.
Anh Lộc từ trong vòng người bước ra. Anh đi tới đứng giữa má Tư với tôi, không nhìn Sáu Lợi mà nhìn quanh cả chợ.
– Nợ đó của tui. Tui thua bài ở sòng ông Sáu từ Tết. Tui mượn ông Sáu năm chỉ, tui dụ vợ tui lăn tay, nói là giấy mua chịu bột. Tui có mượn năm cây hồi nào đâu. Vợ tui hông có lỗi gì hết.
Vòng người ồ lên. Bà Năm lò bột chen lên, nói lớn, giọng còn khàn khàn bột:
– Phải đó! Tháng hai con Lụa tới lò tui hỏi có làm giấy mua chịu hông. Lò tui xưa giờ ghi nợ trên vách, có làm giấy cho ai bao giờ!
– Tui thấy thằng Lộc ngồi sòng ông Sáu mấy tháng nay, ông Chín ghe nói từ phía sau. Tui chở ghe ngang qua, đêm nào cũng thấy.
Bà Sáu bán xôi không chen lên. Bà đứng nguyên chỗ cũ, nói vọng qua, giọng đều đều như đọc giá xôi:
– Bữa ông Sáu tới đây đọc giấy cho chị Tư nghe, tui ngồi kế bên. Ông đọc tên con Lụa hoài, ông né tên thằng Lộc. Tui ngồi chợ ba chục năm, tui biết người ta né là né cái gì.
Rồi có một người đàn bà tôi không quen, đứng ở cuối vòng người, la lên một câu làm cả chợ quay lại nhìn:
– Giấy nhà tui hồi năm ngoái, ông Sáu cũng nói mượn ba chỉ thành mượn ba cây! Tui hông biết chữ, tui tưởng mình nhớ lộn!
Thêm một người, rồi thêm một người nữa. Có ông nói giấy nhà ông cũng có chỗ mực đậm hơn mấy chỗ khác. Có bà nói bà đã bán miếng đất để trả nợ cho Sáu Lợi mà tới giờ vẫn không hiểu sao nợ cứ tăng. Tôi đứng giữa chợ nghe từng người lên tiếng, và hiểu ra cái tủ sắt sơn xanh trong nhà Sáu Lợi chứa không chỉ có một tờ giấy bị cạo.
Sáu Lợi đứng trên mặt sạp, nhìn xuống vòng người. Lần đầu tiên tôi thấy ông ta không biết để tay ở đâu. Ông ta xoay cái nhẫn hột trên ngón út, xoay một vòng, rồi xoay ngược lại. Thằng Hiển đứng sau lưng đã lùi ra tới mép mái tôn.
– Chú Sáu, tôi nói. Nhà con hông quỵt. Năm chỉ gốc anh Lộc mượn, ba chỉ anh Lộc thua thêm, lời tám phân tính đúng từng tháng, trừ đi hai lần con trả, trừ đi một chỉ con trả bữa mười hai có biên nhận chú ký. Thầy tính giùm, bà con nghe giùm. Bao nhiêu, nhà con trả đủ, trả ngay tại đây, trả trước mặt cả chợ.
Thầy giáo mở cặp, lấy ra một cuốn tập với cây viết. Thầy ngồi xuống mép sạp, tính trên giấy, tôi đọc số từ cuốn sổ cho thầy, ngày nào, bao nhiêu. Cả chợ đứng chờ, im phăng phắc, chỉ nghe tiếng ngòi viết sột soạt với tiếng cá quẫy trong thau. Thầy tính xong, đọc con số. Chưa tới chín chỉ vàng.
Má Tư buông tay tôi ra. Bà mở cái gói giấy báo cột dây thun ôm từ sáng tới giờ, đếm tiền ra mặt sạp, từng xấp, chậm rãi, đếm hai lần. Lần thứ hai nhanh hơn lần đầu. Đếm đủ rồi, bà đẩy xấp tiền về phía Sáu Lợi.
– Ông Sáu đếm lại đi, má nói. Đếm đủ nghen.
Sáu Lợi nhìn xấp tiền, rồi nhìn cả chợ. Ông ta không đếm. Ông ta cầm lấy, nhét vô túi áo, rồi ký vô tờ giấy trả nợ thầy giáo vừa viết. Má Tư cầm tờ giấy nợ có dấu lăn tay của con Lụa lên, gấp làm tư, đưa cho tôi.
– Mày giữ. Mày giữ sổ mà.
Sáu Lợi bước xuống khỏi sạp. Ông ta đi ra khỏi vòng người, người ta dạt ra hai bên cho ông ta đi, không ai nói gì, chỉ nhìn. Tới đầu dãy sạp, cô Tám đang đứng chắn lối. Cô nhìn Sáu Lợi một cái, rồi quay mặt đi, nhưng không nhích chân. Sáu Lợi phải đi vòng qua cô.
Vòng người tan dần, ai về sạp nấy, tiếng rao lại nổi lên như chưa có chuyện gì. Anh Lộc vẫn đứng giữa chợ, hai tay buông thõng, không biết nên đi đâu. Má Tư nhìn con trai một hồi lâu. Bà không la, không mắng. Bà cúi xuống nhấc cái thúng bánh còn nằm nghiêng dưới đất, dúi vô tay anh.
– Gánh về. Từ mai ba giờ sáng dậy vo bột với vợ mày. Bột mà vo hông đều tay thì khỏi ăn sáng.
Anh Lộc ôm cái thúng, đứng sững một chút, rồi gật đầu lia lịa. Anh gánh hai cái thúng đi trước, vai lệch qua một bên vì không quen. Con Mận đi sau lưng anh, chỉ anh cách đặt đòn gánh cho cân, giọng y chang giọng má Tư.
Chiều hôm đó, má Tư ra sau hè đào cái hũ sành lên, đem vô nhà, đặt lên bộ ván. Tiền lên tới miệng hũ, lần này đầy thiệt, nhờ tiền mấy đám bánh, tiền bán ở bến với tiền dư từ gói tiền cầm vòng. Tôi đổ ra đếm, cộng, rồi lắc đầu. Đầy hũ mà vẫn còn thiếu gần phân nửa tiền chuộc chiếc vòng. Má Tư ngồi nhìn đống tiền một hồi, rồi đậy lá chuối lại, nói thôi để từ từ, bán thêm vài tháng rồi chuộc, tiệm cầm đồ giữ được sáu tháng.
Chạng vạng, bà Sáu bán xôi ghé nhà. Đi theo sau là ông Chín ghe, bà Năm lò bột, ông Ba cần câu, và bà buôn vải bên kia sông nhờ anh Hai đò chở qua. Người nào cũng cầm theo một xấp tiền. Bà Sáu nói gọn, nói như đọc giá xôi: tháng tới nhà ông Chín có đám giỗ, nhà bà Năm cúng đầy năm cho cháu nội, nhà ông Ba cưới thêm đứa nữa, ghe bà buôn vải lấy mười gói mỗi sáng, tụi tui đặt bánh trước, trả tiền trước. Má Tư đứng dậy, nói nhà tui hông mượn ai. Bà Sáu nói ai cho mượn, tụi tui mua bánh. Con Mận ngồi trong bếp nói vọng ra một câu, giọng nhỏ mà ai cũng nghe: tiền chưa có mà mình biết chắc nó sẽ có. Má Tư đứng im một lúc lâu. Rồi bà gật đầu, kêu tôi lấy sổ ra ghi vô cột đặt trước, ghi đủ tên từng người.
– Sáng mai hai má con lên tỉnh. Chuộc chiếc vòng của ông Tư về.
Sáng hôm sau, má đeo chiếc vòng lên tay ngay tại tiệm cầm đồ, ngay trước mặt ông chủ người Hoa. Hồi nào tới giờ bà chỉ đeo nó đúng ngày mùng một Tết. Trên đò về, bà ngồi ở mũi, giơ tay ra nắng ngắm chiếc vòng hoài, ngắm tới mức anh Hai đò phải nhắc bà ngồi yên cho ghe khỏi chòng chành.
Tối đó tôi ngồi trên cái chõng nhà sau, mở cuốn sổ ra, ghi dòng cuối cùng của món nợ. Ngày hai mươi ba tháng tư, trả Sáu Lợi, đủ, có biên nhận ký trước mặt thầy giáo và bà con. Còn lại: không. Tôi viết chữ không thì tay bắt đầu run. Run tới mức nét chữ cuối nghiêng hẳn qua một bên. Cơn choáng tới, lần này không chớp qua, cũng không kéo dài, mà đứng yên đó, như một cánh cửa mở hé chờ sẵn. Tôi thấy rõ cái bàn ở quận 7, cuốn sổ bạc màu đang mở, dòng chữ còn lại không vừa hiện lên trên trang giấy ngả vàng.
Tôi lật tới trang cuối. Trang giấy vẫn trắng, nhưng lần này khi tôi đưa ngón tay chạm vô, giấy không lạnh như mấy lần trước. Nó ấm, như vừa có ai đặt tay lên đó trước tôi.
Đọc Truyện Cùng Su