Chương 12
Tôi không viết liền. Tôi gấp cuốn sổ lại, nhét xuống dưới chiếu như đêm đầu tiên, và nằm đè lên nó tới sáng. Kế toán nào cũng biết khóa sổ là việc cuối cùng, làm sau khi mọi thứ đã đối chiếu xong. Tôi còn một thứ chưa đối chiếu.
Ba giờ sáng, cả nhà dậy đổ bánh. Lần đầu tiên từ bữa tôi tới, bếp nhà má Tư đông đủ bốn người. Con Mận vo bột, anh Lộc chẻ củi, chẻ vụng tới mức củi văng tứ tung, má Tư phải la ba lần mới chịu chẻ cho thẳng thớ. Tôi ngồi canh nồi xửng, gõ thành nồi nghe tiếng. Tiếng đục. Nước sôi tới đáy rồi.
– Mẻ này mày đổ, má nói. Tao khỏi coi.
Bà nói vậy rồi ngồi ngay sau lưng tôi, coi từ đầu tới cuối. Tôi múc bột, nghe mùi, rưới đường, nếm một đầu ngón tay, đổ khuôn. Hai chục cái bánh ra lò, cái nào cũng nở đều, rễ tre chạy dọc từ dưới lên. Má lấy một cái, cắn, nhai chậm. Bà không nói được. Bà lấy thêm một cái nữa, bẻ đôi, đưa cho tôi một nửa.
Tôi ăn nửa cái bánh đó mà không nuốt được. Tôi đã tính sẵn mấy câu để nói. Má ơi, con không phải con Lụa. Má ơi, con sắp đi. Má ơi, con Lụa thiệt sẽ về, nó không nhớ gì hết, má thương nó giùm con. Câu nào tôi cũng tập trong đầu từ nửa đêm, mà tới lúc ngồi đây, nhìn chiếc vòng vàng trên cổ tay má lấp lánh dưới ánh lửa bếp, tôi không nói được câu nào. Nói ra rồi má tin hay không tin, cái tim yếu của má cũng phải gánh thêm một chuyện nữa.
Cả ngày đó tôi làm như mọi ngày. Ra bến bán chuyến đò sớm, để dành ba cái bánh nhiều đường cho thầy giáo. Lên sạp ngồi với má, thối tiền cho khách, nghe bà Sáu kể chuyện cô Tám sáng nay qua tận sạp mua bánh, trả tiền mặt, còn nói bánh chị Tư dạo này ngon hơn. Tới chiều, tôi đọc số cho má nghe như mọi chiều. Đọc xong, má không đưa tay lấy sổ lại. Bà ngồi lặt rau ngoài hiên, tôi ngồi xuống kế bên, phụ bà lặt.
– Má, tôi hỏi. Nếu mai con khác đi, má có thương con hông?
Má Tư bẻ một cọng rau muống, bỏ vô rổ.
– Khác cái gì? Mày khác từ bữa té ngoài ngõ rồi. Trước bữa đó mày đâu có biết cãi tay đôi với con Tám, đâu có biết viết số bảy có cái gạch.
Bà bẻ thêm một cọng.
– Khác sao thì cũng là con dâu tao.
Tôi cúi xuống lặt rau. Lặt một hồi thì hai mắt nhòe đi, cọng rau nào cũng nhìn thành hai cọng. Má không quay qua nhìn tôi. Bà chỉ nhích cái rổ rau qua phía tôi một chút, cho tôi khỏi phải với.
Tối đó, tôi ngồi trên chõng nhà sau, mở cuốn sổ ra. Trước khi lật tới trang cuối, tôi viết một trang cho con Lụa, trang áp chót. Viết bằng chữ của tôi, nghiêng phải, để nó biết đây không phải chữ nó. Tôi ghi cho nó số nợ đã trả hết, giấy nợ có lăn tay của nó tôi kẹp trong bìa sổ. Tôi ghi tên những người tốt với nó: bà Sáu, anh Hai đò, con Mận, ông Chín, thầy giáo đeo kính. Tôi ghi cách nghe mùi bột, cách gõ thành nồi. Tôi ghi cô Tám mua đường thì phải mua chỗ khác. Dòng cuối, tôi ghi: má biết em không ăn cắp, má thương em, em đừng sợ.
Rồi tôi lật sang trang cuối. Tôi cầm cây viết lên, đặt ngòi xuống giấy, viết chữ K. Lần này mực ăn giấy. Nét mực tím thấm vô từ từ, đều, như giấy đã chờ sẵn. Tôi viết hết chữ Khóa, viết chữ sổ, kéo cái móc ở đuôi chữ K y như mỗi lần ký chứng từ. Cái chõng chao đi. Tôi nghe con Mực sủa một tiếng ngoài hiên, nghe tiếng má trở mình trên bộ ván nhà trên, nghe tiếng nước vỗ dưới chân cầu ván. Rồi mấy tiếng đó nhỏ dần, nhỏ dần, như có ai đang đóng một cánh cửa thật chậm.
Tôi mở mắt ra thì thấy mình đang gục mặt trên bàn làm việc ở quận 7. Máy lạnh chạy rì rì. Màn hình laptop đã tắt, chỉ còn cái đèn nguồn nhấp nháy. Ly cà phê sữa đóng một lớp váng dày. Ngoài cửa kính, thành phố còn tối, chỉ có mấy ngọn đèn đường vàng vọt. Đồng hồ trên tay tôi chỉ ba giờ sáng.
Đúng giờ vo bột.
Tôi ngồi thẳng dậy, nhìn hai bàn tay mình. Tay trắng, sơn móng màu nude, không có vết sẹo nào ở ngón cái. Cuốn sổ bìa xanh nằm trước mặt, bìa bạc, gáy bung, mở ở trang cuối. Hai chữ Khóa sổ, mực tím đã phai, nét nghiêng phải, chữ K có cái móc ở đuôi. Tôi lật ngược lên. Trang áp chót kín chữ nghiêng phải của tôi, cái trang tôi viết cho con Lụa, mực đã phai y như hai chữ kia. Lật lên nữa là ba cột số, số bảy nào cũng có cái gạch ngang. Ở một trang giữa sổ, có một con số bảy viết run run, nét vụng, nằm lẻ loi một mình. Số bảy đầu tiên má Tư tập viết.
Điện thoại tôi nằm úp bên cạnh. Tôi lật lên. Bốn cuộc gọi nhỡ. Cuộc nào cũng tên Má.
Thứ bảy tuần đó, tôi bắt xe về miền Tây. Tôi không biết tên cái thị trấn đó. Trong cuốn sổ không ai ghi tên thị trấn, người ta đâu cần ghi tên chỗ mình đang ở. Tôi chỉ biết có một tiệm cầm đồ người Hoa ở đầu dãy phố tỉnh, bảng hiệu đỏ chữ vàng, và từ bến tỉnh đi đò ngược sông chừng một tiếng thì tới một cái bến có cây me, bên kia sông có gốc bần. Tôi đi hỏi từ sáng tới trưa. Tiệm cầm đồ đã thành tiệm vàng, vẫn bảng đỏ chữ vàng, cháu nội ông chủ đứng quầy. Cậu ta nghe tôi tả cái bến có cây me thì chỉ đường liền. Giờ không còn đò nữa, người ta xây cầu.
Chợ thị trấn đã lợp mái tôn hết, sạp nào cũng có bảng hiệu. Tôi đi dọc dãy sạp đầu chợ, chỗ mái tôn ngày xưa. Tới sạp thứ ba thì dừng lại. Tấm bảng gỗ sơn xanh, chữ trắng, nét chữ kẻ tay: Bánh Bò Má Tư. Dưới tấm bảng là mấy cái thúng phủ lá chuối, hơi bánh bay lên, mùi nước cốt dừa trộn mùi lá chuối, y như cái mùi tôi ngửi mỗi sáng suốt một tháng rưỡi.
Người đứng bán là một bà già chừng sáu mươi, tóc bạc phân nửa, búi gọn sau gáy. Bà gói bánh cho khách bằng lá chuối, gấp vuông vức, ba cái một gói. Lúc bà đưa gói bánh qua quầy, tôi thấy ngón tay cái bên trái của bà có một vết sẹo nhỏ cắt ngang mấy đường vân. Phía sau sạp, một ông già ốm nhom ngồi trên ghế đẩu, đang vo bột trong cái thau nhôm, vo chậm mà đều tay.
– Con mua bánh hả con? Bà già hỏi.
– Dạ. Cho con một gói.
Bà gói, đưa cho tôi. Tôi mở ra ăn ngay tại chỗ. Ruột rễ tre, ngọt vừa, thơm mùi dừa. Tôi nhai chậm, nhai lâu, như má Tư vẫn nhai.
– Bánh ngon quá cô. Tiệm mình bán lâu chưa cô?
– Lâu lắm rồi con. Má chồng cô bán từ hồi cô còn chưa về làm dâu, cô về thì phụ má, rồi giữ luôn tới giờ.
Bà hất cằm về phía vách sạp. Trên đó có một cái kệ nhỏ, đặt một tấm ảnh trắng đen lồng khung kính, kế bên là bát nhang với một dĩa bánh bò. Má Tư trong anh già hơn bữa tôi đi, tóc bạc trắng, búi củ hành. Bà ngồi thẳng lưng, mặt nghiêm như bữa đếm tiền lần hai. Trên cổ tay trái của bà là chiếc vòng vàng.
– Má cô mất năm hai ngàn mười hai, bà Lụa nói. Mất nhẹ lắm, đang ngủ trưa thì đi. Chiếc vòng đó má đeo từ năm chín mươi tới lúc mất, hông tháo ra ngày nào.
Tôi đứng nhìn tấm ảnh. Bà Lụa nhìn tôi, rồi nhìn gói bánh trong tay tôi, rồi nhìn lại tôi lâu hơn một chút.
– Con quen má cô hả?
– Dạ, con… con nghe người ta kể.
Bà Lụa không hỏi thêm. Bà rót cho tôi ly trà đá, kéo cái ghế đẩu ra cho tôi ngồi. Chợ trưa vắng khách, bà ngồi xuống đối diện, vừa xếp lá chuối vừa kể, kể như người già kể chuyện cho người lạ, vì người lạ thì không ngắt lời.
Bà kể năm chín mươi bà làm dâu được ba năm, má chồng khó lắm, chồng thì cờ bạc, nợ nần. Rồi có một bữa giữa tháng ba, bà nhớ mình đang ôm cái hũ tiền chạy ra ngõ, rồi không nhớ gì nữa. Bà như ngủ một giấc dài. Tới khi tỉnh dậy là sáng cuối tháng tư, bà đang nằm trên cái chõng nhà sau, ngoài bếp có tiếng má chồng la chồng bà chẻ củi không thẳng thớ. Nợ đã trả hết. Cả xóm nhìn bà như nhìn người khác. Má chồng kêu bà vô ăn sáng, múc cho bà tô cháo trước cả con trai.
– Cô coi cuốn sổ bán bánh của cô, cô thấy mấy trang chữ lạ hoắc, nghiêng nghiêng, tính sổ giỏi dữ lắm, có trang còn dặn cô cách nghe mùi bột. Cô hỏi má chồng, má nói thôi, chuyện đó khỏi hỏi. Má nói con nhỏ ở nhà mình hồi đó, ai thì má cũng thương. Mấy năm sau, lúc má sắp mất, má còn nhắc. Má nói nó viết số bảy có cái gạch, má học theo, giờ má viết số bảy đẹp hơn mày.
Bà Lụa cười, cái cười làm mấy nếp nhăn ở khóe mắt xếp lại. Rồi bà thở dài.
– Cuốn sổ đó cô giữ mấy chục năm. Năm ngoái thằng cháu dọn kho, nó tưởng giấy cũ, đem bán ve chai. Cô tiếc hoài.
Tôi mở túi xách, lấy cuốn sổ bìa xanh ra, đặt lên mặt sạp, ngay cạnh mấy cái thúng bánh. Bà Lụa nhìn cuốn sổ. Hai tay bà đang xếp lá chuối thì ngưng lại. Bà đưa ngón tay cái có vết sẹo ra, sờ lên vết cháy hình miệng chén ở góc bìa, sờ rất lâu, rồi mở ra, lật từng trang. Tới trang áp chót, bà dừng lại, đọc. Môi bà mấp máy theo từng dòng. Đọc tới dòng cuối, bà gấp cuốn sổ lại, đặt hai tay lên bìa, ngồi yên một hồi.
Ở phía sau, ông Lộc ngưng vo bột, ngó ra.
– Bà nó, gì vậy?
– Hông có gì. Ông vo bột tiếp đi, vo hông đều tay là má về nhắc đó.
Bà Lụa đẩy cuốn sổ qua phía tôi.
– Con giữ đi. Chữ ai viết thì người đó giữ. Cô có trang của cô rồi, cô nhớ hết rồi.
Tôi cầm cuốn sổ lên, ôm vô ngực. Bà Lụa đứng dậy, gói thêm hai gói bánh, gói kỹ, cột dây lác, đặt vô tay tôi.
– Đem về cho má con. Con còn má hông con?
– Dạ, còn.
– Vậy thì về đi.
Chiều đó, ở bến xe tỉnh, tôi mua một vé về quê. Xe chưa chạy, tôi ngồi ở hàng ghế chờ, hai gói bánh bò trên đùi, cuốn sổ trong túi xách, điện thoại trong tay. Tôi bấm số. Chuông đổ tới hồi thứ ba thì có người bắt máy.
– Má, tôi nói. Con về.
Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói, giọng y như ba năm trước, chỉ có điều khàn hơn:
– Ừ. Về đi con. Má nấu cơm chờ.
Xe chạy lúc gần năm giờ. Tôi ngồi sát cửa sổ, nhìn ra cánh đồng hai bên đường. Lâu lâu tôi lại mở cuốn sổ ra, lật tới trang có con số bảy viết run run, nhìn nó một chút, rồi gấp lại.
Đọc Truyện Cùng Su