Chương 7
Ba giờ sáng, lúc tôi xách thau ra mương lấy nước vo bột, anh Lộc đang nằm co trên cầu ván sau hè, đầu gối lên cánh tay, một chiếc dép rớt dưới nước trôi lềnh bềnh. Người anh nồng mùi rượu đế với khói thuốc. Tôi ngồi xuống, lay vai anh. Anh mở mắt, nhìn tôi một hồi như chưa nhận ra ai, rồi lật hai cái túi quần ra ngoài, trống trơn, để cho tôi coi thay câu trả lời.
– Bao nhiêu anh?
Anh Lộc giơ ba ngón tay lên, rồi úp mặt vô cánh tay lại. Tôi vớt chiếc dép dưới mương lên, đặt kế chân anh, rồi đi lấy nước. Mấy chuyện còn lại để sáng tính. Ba giờ sáng, bột thì không chờ ai.
Tới năm giờ, ở bến đò, thằng Hiển tới mua bánh như mua bánh thiệt. Nó trả tiền đủ, lấy gói bánh, rồi đứng sát quầy, nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe:
– Ba chỉ, chị Lụa. Chú Sáu cộng vô giấy rồi. Chú biểu nói chị là chú vẫn dễ, chị cứ thong thả.
Nó cười, gật đầu chào như khách quen, rồi lên dốc. Tôi ghi con số ba chỉ vô trang kế hoạch ba mươi ngày, thêm một ô đỏ. Con Mận đứng kế bên, nhìn theo lưng thằng Hiển, rồi nhìn tôi. Nó không hỏi. Từ bữa về làm chung, nó chưa bao giờ hỏi tôi cái gì mà tôi chưa muốn nói.
Trưa đó về tới nhà, anh Lộc vẫn còn ngủ, nằm sấp trên bộ ván nhà trên, ngáy như kéo bễ. Má Tư đứng nhìn con trai một hồi, cau mày, hỏi tôi nó đi đâu mà giờ này còn nằm. Anh Lộc nghe tiếng má thì mở mắt, nhưng không ngồi dậy, chỉ nằm im nhìn tôi qua khe cánh tay, chờ coi tôi nói gì. Tôi nói anh phụ ghe hàng chở lúa lên tỉnh, về tới bến lúc gần sáng, mệt quá nằm luôn ngoài cầu ván. Má Tư chép miệng, đi xuống bếp nấu cho con trai tô cháo hành. Anh Lộc vẫn nằm đó, mắt vẫn nhìn tôi. Lúc tôi đi ngang qua, anh nói nhỏ một chữ cảm ơn, nhỏ tới mức tôi tưởng mình nghe lộn. Tôi không trả lời. Tôi không nói dối cho anh, tôi nói dối cho cái tay trái của má khỏi phải đưa lên ngực.
Sạp ở chợ là ý của má Tư, không phải của tôi. Chiều hôm đó, má đếm tiền gánh xong, không chia hai như mọi bữa mà ngồi im một hồi, rồi nói bà Sáu chỉ chỗ có cái sạp sát mái tôn đầu chợ, người ta về quê không bán nữa, cho thuê lại. Có mái che, có ván kê, khỏi gánh. Bà nói xong thì đợi tôi tính. Tôi tính. Tiền thuê một tháng bằng chừng bốn buổi lời. Có sạp thì ngồi được cả ngày, bán được buổi trưa cho mấy người làm ở nhà máy xay, chỗ để thúng nhận bánh đặt cho đám. Tôi gật. Má Tư gật theo, như bà chỉ chờ tôi gật để khỏi phải tự gật một mình.
Đơn đặt đầu tiên là đám cưới thằng út nhà ông Ba cần câu, một trăm năm chục cái bánh bò, đặt cọc phân nửa. Đơn thứ hai là đầy tháng cháu nội bà Năm lò bột, tám chục cái, bà Năm trả bằng bột, đủ dùng hai tuần. Đơn thứ ba từ xóm trên, nhà ông Chín ghe, giỗ bên vợ. Tôi ghi ba đơn vô sổ, cộng lại, rồi nhìn đôi tay của mình với đôi tay của má, của con Mận. Ba người đổ bánh, mỗi mẻ hai chục cái, cộng với bánh bán lẻ mỗi ngày, thì phải đổ từ hai giờ sáng tới trưa.
– Má phải dạy con làm bánh cho ra bánh, tôi nói. Một mình má hông đổ kịp ba đám.
Má Tư đang ngồi lựa lá chuối, nghe vậy thì ngưng tay. Bà nhìn tôi, rồi nhìn xuống mặt đất nện chỗ bếp. Ngay chỗ đó, dưới lớp tro than, còn lờ mờ mấy vạch que tre tôi ghi bữa đầu, bữa tôi lén đếm số vá bột bà múc.
– Tưởng tao hông thấy hả? Má nói. Mày ngồi đếm từ bữa đổ mẻ thứ năm. Tao thấy mày lấy chân xóa.
Tôi không biết nói gì, đành cười. Má Tư không cười, nhưng bà đứng dậy, đi tới thau bột, kêu tôi lại.
Bà dạy tôi suốt buổi chiều đó, và tới lúc đó tôi mới biết cái mà tôi đếm được chỉ là cái vỏ. Số vá bột tôi đếm đúng, nhưng vá dừa của má mỗi lần múc một khác, tùy bột ủ tới đâu. Bà đưa thau bột lên mũi tôi, biểu tôi ngửi. Bột ủ tới thì chua nhẹ như cơm mẻ mới, chua gắt là quá, không chua là chưa. Bà biểu tôi nhúng ngón tay vô nước đường, rồi đưa lên môi. Nước đường đủ là ngọt mà không rít lưỡi. Bà biểu tôi gõ vô thành nồi xửng nghe tiếng. Nước sôi đúng thì tiếng gõ đục, còn tiếng trong là nước chưa sôi tới đáy.
– Con số của mày đúng, má nói. Mà con số của mày chỉ đúng cho bột hôm nay. Mai bột khác, đường khác, trời nóng trời lạnh khác. Mày phải biết cái gì nằm sau con số.
Tôi đứng ngửi thau bột, nghĩ tới mười hai năm làm kế toán của mình. Mười hai năm tôi tin con số, ghi con số, giải thích con số cho người khác. Hiếm khi tôi hỏi cái gì nằm sau nó.
Gần tối, má rửa tay, rút ra một cái khăn rằn cũ, gấp làm tư, đặt lên bộ ván. Bà mở ra. Bên trong là một tờ giấy vàng ố, chữ viết bằng mực xanh đã phai, nét nghiêng nghiêng, run run.
– Ông Tư viết đó. Hồi tao mới về làm dâu, má chồng tao đọc, ổng ghi lại cho tao. Tao hông đọc được, mà tao giữ ba chục năm. Mày đọc đi.
Tôi đọc to từng dòng. Bột gạo ngâm bao lâu, xay mấy lần, ủ mấy đêm, đường thốt nốt hay đường cát, nước cốt dừa nạo lần đầu hay lần hai. Ở cuối tờ giấy có một dòng nhỏ hơn, mực đậm hơn, chắc ông Tư viết thêm sau này: để lại cho đứa con dâu nào chịu đứng bếp.
Má Tư ngồi nghe tôi đọc xong, không nói gì. Bà gấp cái khăn rằn lại, nhưng không cất vô buồng như tôi tưởng. Bà để nó trên kệ, ngay kế cuốn sổ bìa xanh của tôi.
Sáng hôm sau, tôi đổ một mình mẻ bánh đầu tiên cho đám cưới nhà ông Ba. Má đứng sau lưng, khoanh tay, không nói một tiếng. Hai chục cái ra lò. Tôi xăm đũa, đũa sạch. Tôi cắn thử một cái, ruột rễ tre chạy dọc từ dưới lên, ngọt vừa, thơm mùi dừa. Má Tư đưa tay lấy một cái, cắn, nhai chậm, nhai lâu. Rồi bà gật đầu đúng một cái.
– Được.
Bà nói một chữ đó rồi quay đi lấy thêm củi. Tôi đứng cầm cái bánh, không ăn tiếp được. Mười hai năm đi làm, sếp tôi khen tôi nhiều lắm, có lần còn khen trước cả hội đồng quản trị, mà tôi không nhớ được câu nào.
Đám cưới nhà ông Ba cần câu làm ở sân sau, căng bạt xanh, kê sáu bàn tròn. Tôi với con Mận gánh bánh tới từ sớm, xếp lên mấy cái mâm nhôm, mỗi mâm phủ một lớp lá chuối. Ông Ba đứng coi xếp bánh, gật gù, bốc một cái ăn thử, rồi kêu vợ ra ăn thử, rồi kêu cả đàng gái ra ăn thử, tới chừng tôi phải nói ông Ba ơi, ăn thử nữa là hết bánh đãi khách. Cô Tám tới dự, ngồi bàn gần cổng, cầm cái bánh lên ngó tới ngó lui, nói lớn với bàn bên cạnh bánh bò đám cưới gì mà nhỏ xíu vậy. Bàn bên cạnh không trả lời, vì họ đang lo hỏi con Mận chỗ đặt bánh. Tới lúc tiệc tan, tôi cầm về thêm hai đơn mới, một đám giỗ, một đám thôi nôi, cả hai trả cọc ngay tại bàn.
Hết ba đám, trừ tiền bột, đường, dừa, củi, tiền công con Mận, tiền thuê sạp, tiền má chia vô hũ, tôi còn trong tay một khoản. Một khoản mà nếu đặt cạnh năm cây ba chỉ thì nhỏ như hột bụi. Nhưng kế toán biết rõ nợ càng để lâu thì lời càng ăn vô gốc. Trả bớt được đồng nào thì tám phân của tháng sau nhẹ đi đồng đó.
Chiều mười hai tháng tư, tôi nhờ anh Hai đò chở qua nhà Sáu Lợi ở xóm bên kia chợ. Anh Hai đò không hỏi đi đâu, chỉ cột ghe rồi lẳng lặng đi theo, đứng ở cổng như cái cột. Nhà Sáu Lợi xây gạch, cửa sắt, trong nhà có cái tủ sắt sơn xanh đặt sát vách. Sáu Lợi ngồi uống trà, thấy tôi đặt tiền lên bàn thì nhướng mày.
– Con đem tới sớm vậy?
– Dạ. Chú ghi cho con một tờ biên nhận, con trả bao nhiêu, ngày nào, trừ vô gốc.
Sáu Lợi nhìn tôi lâu, rồi cười, lấy giấy bút viết. Viết xong, ông ta ký, đẩy qua cho tôi. Tôi đọc kỹ từng chữ, đọc tới chữ trừ vô gốc thì gật đầu, xếp lại, cất vô giữa hai trang sổ.
Về tới nhà, tôi ngồi trên chõng nhà sau, mở cuốn sổ ra, ghi dòng trả nợ đầu tiên. Ngày mười hai tháng tư, trả Sáu Lợi, số tiền, trừ vô gốc. Tôi vừa viết xong chữ gốc thì cây viết trượt khỏi tay. Mắt tôi tối sầm, rồi sáng lên trắng xóa. Trong cái trắng đó, tôi thấy màn hình laptop của tôi, bảng tính quyết toán còn mở, con trỏ chuột nhấp nháy ở một ô cuối cùng. Tôi thấy rõ tới từng con số. Rồi nó tắt, nhanh như khi màn hình chớp lúc tôi cầm cuốn sổ ở quận 7. Tôi chúi người về phía trước. Con Mận đang rửa khuôn kế bên, quăng cái khuôn, nhảy tới đỡ tôi.
– Chị Lụa! Chị sao vậy?
– Hông sao. Chắc thức khuya quá.
Tôi ngồi dậy, uống ly nước con Mận đưa, tay vẫn còn run. Tôi nói với nó là thức khuya, và tôi cũng ráng tin như vậy. Tôi đã ba đêm liền ngủ chưa tới bốn tiếng.
Ngày mười bốn tháng tư, đúng một tháng tính từ bữa tôi mở mắt giữa ngõ, má Tư ra sau hè đào cái hũ lên. Bà không nói gì về ngày hẹn, tôi cũng không nhắc. Bà đem hũ vô nhà, đặt lên bộ ván, gỡ lá chuối ra. Tiền lên gần tới miệng hũ, còn cách chừng một đốt ngón tay. Bà nhìn một hồi, rồi đậy lá chuối lại, cột dây.
– Đầy rồi.
Tôi biết nó chưa đầy. Má cũng biết. Nhưng bà nói đầy rồi, và bà nói câu đó bằng cái giọng của người đóng một cuốn sổ cũ lại cho xong.
Rồi bà với tay lấy cuốn sổ bìa xanh trên kệ, như mỗi chiều bà vẫn lấy để tôi đọc số cho nghe. Có điều chiều nay bà không đưa cho tôi. Bà tự lật, ngón tay dò theo cột số cuối mỗi trang, cái cột mà chính tôi đã dạy bà đọc. Bà dò tới trang ngày mười hai tháng tư thì ngón tay dừng lại.
– Cái số này, má nói, gõ ngón tay lên dòng tôi ghi trả Sáu Lợi. Nó lớn hơn tiền bột cả tháng. Mày chi cái gì mà lớn dữ vậy Lụa?
Đọc Truyện Cùng Su