Chương 5
Lò bột của ông Năm không có cửa, chỉ có một tấm vách ván dựng chắn gió, và trên tấm vách đó chi chít những vạch than đen. Tôi đứng nhìn tấm vách một hồi lâu mới hiểu đó là sổ nợ. Mỗi nhà một hàng, đầu hàng vẽ một cái hình thay cho tên, nhà thì vẽ con cá, nhà vẽ cái nón, nhà vẽ cây dừa. Lấy chịu một ký thì gạch một vạch, trả rồi thì bà Năm lấy giẻ ướt chùi đi. Hàng có hình cây dừa nghiêng là hàng của nhà má Tư, và hàng đó trống trơn.
– Nhà bây mua bột ở đây mười mấy năm, chưa chịu ký nào, bà Năm nói, tay vẫn quay cái cối xay. Hồi ông Tư còn sống cũng vậy. Ông Tư nói nhà ổng nghèo thì nghèo, nợ bột là nợ cơm, ổng hông nợ.
– Dạ, mà bà có làm giấy mua chịu cho ai bao giờ hông bà?
– Giấy? Bà Năm cười, khoe hai cái răng cửa bọc vàng. Ông Năm với tao, hai đứa cộng lại biết được đúng bốn chữ, là chữ Năm với chữ Lò. Làm giấy cho ai đọc?
Ông Năm ngồi trong góc sàng bột, nghe tới đó thì ngóc đầu lên, hỏi vợ con nhỏ hỏi gì. Bà Năm la lớn vô tai ông, nó hỏi mình có làm giấy mua chịu hông. Ông lắc đầu, cúi xuống sàng tiếp. Bà Năm quay qua tôi, đột nhiên nheo mắt.
– Mà Lụa, tháng trước con hỏi tao y chang câu này rồi. Con quên rồi hả?
Tôi đứng im giữa lò bột, bụi bột bay trắng hai vai áo. Con Lụa đã tới đây. Con Lụa đã đứng đúng chỗ tôi đang đứng, hỏi đúng câu tôi vừa hỏi, và nghe đúng câu trả lời tôi vừa nghe. Vậy là trước ngày mười bốn tháng ba, con Lụa đã biết tờ giấy nó lăn tay không phải giấy mua chịu bột.
– Dạ, con té, đầu óc con dạo này hay quên.
– Té gì mà té hoài vậy con. Đi đứng cẩn thận, đàn bà mà té là mất phước.
Bà Năm đưa cho tôi ba ký bột như mọi tuần. Tôi trả tiền mặt, như mọi tuần. Lúc tôi quay đi, bà nói với theo một câu, nhỏ thôi, như sợ ông Năm nghe:
– Con hỏi bà Sáu bán xôi đi. Bả biết chuyện trong xóm còn rõ hơn con Tám.
Tôi chưa kịp tới hỏi bà Sáu. Trưa đó má Tư đi ăn đám giỗ bên xóm trên, nhà ông Chín ghe, đem theo hai chục cái bánh làm quà. Trước khi đi, má thay cái áo bà ba lãnh đen, chải đầu bằng dầu dừa, búi tóc gọn ghẽ hơn mọi bữa, dặn tôi coi nhà, tối má mới về. Anh Lộc thì từ sáng tới giờ chưa thấy mặt. Con Mận về nhà lo cho chồng. Cả cái nhà chỉ còn tôi với con Mực.
Tôi ngồi trên bộ ván, mở cuốn sổ ra, lật tới trang mười bốn tháng hai, đọc lại dòng chữ nghiêng sát mép giấy. Anh Lộc đưa giấy mua chịu bột ở lò ông Năm, biểu em lăn tay, em lăn rồi. Tôi lật tiếp, tìm trong mấy trang sau đó coi con Lụa có ghi thêm gì không. Tới trang hai mươi mốt tháng hai, cũng sát mép giấy, có một con số viết bằng bút chì, không kèm chữ nào, và một dấu gạch chéo. Trang mùng năm tháng ba có một con số khác, lớn hơn, cũng không kèm chữ. Tôi đang cộng hai con số đó trong đầu thì con Mực đứng bật dậy, gầm gừ về phía ngõ.
Có hai người đi vô sân. Người đi sau tôi biết rồi, cái áo sơ mi bỏ ngoài quần, cái đồng hồ mặt vàng. Người đi trước chừng năm mươi, thấp, bụng tròn, mặc bộ bà ba lụa trắng tinh không một vết nhăn, ngón tay út đeo cái nhẫn có hột lấp lánh. Ông ta đi chậm, nhìn quanh sân như người đi coi nhà để mua.
– Lụa ở nhà hả con? Bà Tư đi giỗ rồi ha. Vậy cũng được.
Ông ta không chờ ai mời. Ông ta bước lên thềm, cởi dép để ngay ngắn, rồi ngồi xuống bộ ván, đối diện tôi. Thằng đồng hồ vàng đứng ở cửa, dựa lưng vô cột, chặn ngang đường ra. Con Mực sủa một tràng. Ông ta không nhìn con chó, chỉ nói:
– Cột con chó lại, con. Tao hông thích chó.
Tôi không cột. Tôi kéo con Mực vô sát chân mình, tay giữ cổ nó. Ông ta nhìn tôi làm vậy, cười nhẹ, rồi ngước lên nhìn tấm ảnh trên bàn thờ.
– Ông Tư hồi đó cũng hay ngồi uống trà với tao. Người hiền. Hiền quá thì nghèo, ổng nghèo tới c.h.ết vẫn hiền.
Tôi biết ông ta là ai trước khi anh Hai đò kịp dặn tôi đừng trả lời. Trong mười hai năm, tôi gặp không ít người như ông ta, ngồi ở bàn họp, ngồi ở quán cà phê, nói chuyện nhỏ nhẹ, đeo nhẫn, và không bao giờ là người đầu tiên nói tới tiền. Họ chờ người khác nói trước.
Tôi không nói. Ông ta chờ một hồi, thấy tôi không nói, mới thở dài như người thất vọng vì con nít không chịu chơi trò mình bày, rồi thò tay vô túi áo, lấy ra một tờ giấy gấp làm tư. Ông ta mở ra, vuốt phẳng trên bộ ván, xoay chiều cho tôi đọc, nhưng tay vẫn đè lên một góc.
Tờ giấy học trò, kẻ ô li, mép rách lởm chởm như xé ra từ cuốn tập. Chữ viết bằng mực tím, không phải chữ con Lụa. Tôi tên là Lụa, ở xóm bến đò, có mượn của ông Sáu Lợi số vàng là năm cây, hẹn trả trong ba tháng, quá hạn tính lãi theo tháng, nếu không trả được thì chịu giao nhà cửa để trừ nợ. Dưới cùng ghi ngày mười bốn tháng hai năm một ngàn chín trăm chín mươi. Kế bên chữ người mượn là một dấu lăn tay màu tím sẫm, hình xoắn ốc, nét còn rõ từng đường chỉ.
Năm cây vàng. Tôi không biết năm cây vàng năm một ngàn chín trăm chín mươi lớn cỡ nào, nhưng tôi biết cả cái nhà lá này, gồm bộ ván gõ, bàn thờ ông Tư, ba thau bột với cái hũ sành chôn sau hè, chưa chắc đổi được ba cây.
– Con hông có mượn ông đồng nào.
– Hông mượn? Sáu Lợi gõ ngón tay đeo nhẫn lên tờ giấy, ngay chỗ dấu lăn tay. Hông mượn mà tháng rồi con đem tiền tới nhà tao hai lần? Lần đầu một mớ, lần sau một mớ lớn hơn. Hông mượn thì con trả cái gì?
Tôi nhớ tới hai con số bút chì sát mép giấy trong cuốn sổ, trang hai mươi mốt tháng hai và trang mùng năm tháng ba. Tôi nhớ tới cái hũ chỉ còn phân nửa và tiếng má Tư đếm tiền lần hai chậm hơn lần đầu. Phân nửa cái hũ của má không mất đi đâu hết. Nó nằm trong tủ của người đàn ông đang ngồi trước mặt tôi.
– Mấy lần đó con trả, tao trừ vô tiền lời, Sáu Lợi nói tiếp, giọng đều đều như người đọc giá cá. Năm cây gốc vẫn nằm nguyên. Bữa mười bốn tháng ba con hẹn đem hết tới cho tao, tao ngồi chờ từ sáng. Rồi nghe nói con bị má chồng bắt quả tang ngoài ngõ. Tao thấy tội, tao cho con thêm ít bữa. Giờ con làm ăn khấm khá rồi, tao nghe thằng Hiển nói bánh con bán ở bến đò hết sạch mỗi sáng.
Thằng đồng hồ vàng ở cửa nhếch miệng cười. Vậy là nó tên Hiển.
– Con coi kỹ được hông? Tôi hỏi.
Sáu Lợi nhìn tôi một chút, rồi gật. Nhưng ông ta không đưa tờ giấy cho tôi. Ông ta vẫn đè một góc, chỉ đẩy tờ giấy tới gần tôi hơn. Tôi cúi xuống sát. Mực tím đã khô, giấy đã ngả màu ở mấy chỗ gấp. Tôi đưa ngón tay cái lên, đặt sát bên dấu lăn tay, không chạm vô. Ngón tay cái của con Lụa có một đường chỉ xoắn ốc chạy vòng từ giữa ra, ở mép trái có một vết sẹo nhỏ cắt ngang mấy đường vân, chắc do dao lá chuối. Trên tờ giấy, dấu lăn tay tím sẫm cũng có đường xoắn ốc chạy từ giữa ra, và ở mép trái cũng có một khe trắng nhỏ cắt ngang.
Tôi rút tay về, đặt xuống đùi. Con Mực liếm ngón tay cái của tôi, như liếm cho sạch.
– Ba mươi ngày, Sáu Lợi nói, gấp tờ giấy làm tư, cất lại vô túi áo. Tính từ bữa nay. Gốc với lời, tao cho con trả làm nhiều lần cũng được, tao dễ. Tới ngày thứ ba mươi mà chưa đủ thì tao đem tờ giấy này qua cho bà Tư coi. Bà Tư hông biết chữ, tao đọc cho bả nghe. Tao nghe nói bả yếu tim.
Trong đầu tôi, mấy con số tự xếp hàng như mỗi lần ngồi trước bảng tính. Gánh bánh giờ bán gần hai trăm cái một buổi, trừ bột, đường, dừa, củi, lá chuối, công con Mận, mỗi buổi lời được chừng đó. Ba mươi ngày, nếu không ai bệnh, không mưa lớn, không có bữa nào bột hư, cộng lại may lắm được một góc của năm cây, chưa tính tiền lời. Còn chín ngày nữa là tới hạn tôi hứa với má Tư, và cái hũ sau hè mới lên được mấy đốt ngón tay. Bảng tính nào đặt hai con số đó cạnh nhau cũng báo đỏ.
– Con trả gốc trước, lời tính sau được hông chú?
Sáu Lợi bật cười, lần đầu tiên cười ra tiếng.
– Được chớ con. Tao dễ mà. Gốc là năm cây, con cứ đem tới. Đem năm cây tới thì lời bao nhiêu tao bớt cho con phân nửa, coi như nể ông Tư.
Ông ta nói như người đang ban ơn, và thằng Hiển ở cửa cũng gật gù như ông ta vừa ban ơn thiệt. Tôi biết kiểu mặc cả đó. Người ta hứa bớt cho mình ở cái phần mình không bao giờ tới được.
Ông ta đứng dậy, xỏ dép, phủi vạt áo bà ba dù trên đó không dính gì. Tới bậc thềm, ông ta quay lại nhìn quanh nhà một lần nữa, nhìn bộ ván, nhìn bàn thờ, nhìn cái mái lá có cây dừa nghiêng ở góc, giống như người đang ước lượng xem thứ này đáng mấy chỉ vàng.
– Nhà này ông Tư cất hồi năm bảy lăm, cột gõ hết đó con. Tiếc lắm.
Hai người đi ra tới ngõ thì thằng Hiển quay lại, chạy lên mấy bước, đứng dưới sân nói vọng lên thềm:
– Chú Sáu biểu nói luôn, nhắn thằng Lộc tối nay khỏi tới sòng. Tới thì chú tính luôn phần nợ mới của nó, cộng chung vô tờ giấy của chị.
Nó nói xong thì quay đi, huýt sáo. Tôi ngồi trên bộ ván, tay vẫn đặt trên đùi, ngón tay cái co lại trong lòng bàn tay. Ngoài ngõ, từ phía xóm trên, có tiếng dép quen thuộc đang đi về, sớm hơn mọi tính toán của tôi cả mấy tiếng đồng hồ, và giọng má Tư vang lên ngay đầu hàng rào bông bụp:
– Lụa ơi! Giỗ bên nhà ông Chín có bánh ít nhân dừa, tao gói về cho mày nè. Hai thằng nào mới đi ra từ nhà mình vậy?
Đọc Truyện Cùng Su