Chương 4
Gói bánh đầu tiên tôi bán ở bến đò là cho một ông thầy giáo đeo kính gọng đen, sáng nào cũng đi chuyến đò năm giờ rưỡi lên tỉnh dạy học. Ông đứng nhìn cái thúng của tôi một hồi, hỏi bánh gì mà gói vuông vức như gói thuốc bắc vậy em. Tôi nói bánh bò, ba cái một gói, lá chuối gấp kín, bỏ túi áo ngồi trên đò tới tỉnh vẫn còn ấm. Ông mua một gói. Lúc đò tách bến, tôi thấy ông mở ra ăn liền một cái, ăn thêm cái nữa, cái thứ ba thì ông gói lại, cất vô cặp.
Ý dời gánh ra bến là của tôi, nhưng lý do thì có hai, và tôi chỉ nói với má Tư một. Lý do tôi nói là ở chợ, gánh của má ngồi giữa gánh xôi, gánh bún, gánh cháo, người ta đi chợ có cả chục món để chọn. Còn ở bến đò, từ năm giờ tới sáu giờ có ba chuyến lên tỉnh, người đi đò toàn là bạn hàng, thầy giáo, mấy chú công nhân nhà máy xay, đứng chờ đò bụng đói meo mà cả bến không có ai bán đồ ăn. Lý do tôi không nói là cái đốm thuốc dưới gốc bần. Bến đò thì lúc nào cũng có người, có anh Hai đò, có mấy ông bạn hàng vai u thịt bắp. Ở đó, không ai có dịp hỏi con Lụa có đi một mình không.
Má Tư nghe xong thì lắc đầu ngay.
– Ba chục năm tao ngồi chỗ đó. Tao bỏ đi, bà Sáu nói tao bỏ bạn.
– Má đâu cần bỏ. Má vẫn ngồi chợ. Con với con Mận ra bến bán chuyến sớm, bán xong con lên chợ phụ má.
– Lấy đâu ra bánh mà bán hai chỗ?
– Thì đổ thêm một mẻ, má.
Bà nhìn tôi như nhìn đứa đòi nấu thêm nồi cơm cho khách không mời. Nhưng sáng hôm sau, lúc tôi xuống bếp, đã thấy thêm một thau bột ủ sẵn đậy vải mùng, và trên kệ có thêm mười cái khuôn nhôm mới, còn dán giấy giá.
Ngày đầu, tôi ra bến với ba chục gói, tức chín chục cái. Tới chuyến đò thứ hai thì hết sạch. Người chuyến thứ ba đứng chờ không có gì ăn, nhìn cái thúng trống trơn của tôi như nhìn người có lỗi. Ngày thứ hai tôi đem bốn chục gói, hết trước chuyến thứ ba. Tới ngày thứ ba, có một bà buôn vải ở bến bên kia gửi anh Hai đò nhắn qua, đặt trước mười gói cho cả ghe hàng của bà, sáng nào cũng lấy.
Tôi bắt đầu ghi một cột mới trong sổ, kêu là cột đặt trước. Con Mận ngồi kế bên coi tôi ghi, hỏi đặt trước là sao chị, tôi nói là tiền người ta hứa đưa mình trước khi mình làm bánh. Nó nghe xong ngẫm nghĩ một hồi, rồi nói gọn:
– Vậy là tiền chưa có mà mình biết chắc nó sẽ có.
Tôi nhìn nó. Trong mười hai năm, tôi chưa nghe đứa thực tập nào giải thích khoản phải thu gọn hơn vậy.
Hết tuần đầu, tôi ngồi cộng. Trước kia gánh bán một trăm hai chục cái một buổi, giờ cộng cả bến lẫn chợ là gần hai trăm. Bán chịu thì gần như hết, vì ở bến người ta lên đò rồi, ai cho chịu. Tôi đưa con số cho má Tư coi. Bà không biết đọc chữ, nhưng số thì bà đọc được, và bà đọc con số đó lâu lắm. Rồi bà chỉ nói một câu:
– Mai đổ thêm nửa mẻ. Cái thầy giáo đeo kính đó, để dành cho ổng ba cái nhiều đường. Ổng ốm quá.
Sáng ngày thứ tám, giữa đám người chờ chuyến đò thứ hai, có một người đàn ông tôi chưa thấy bao giờ. Anh ta chừng hai lăm, hai sáu, mặc áo sơ mi bỏ ngoài quần, đi dép nhựa mà đeo cái đồng hồ mặt vàng sáng chói, kiểu đồng hồ người ta đeo để người khác thấy. Anh ta không chờ đò. Anh ta đứng dựa gốc cây me đầu bến, hút thuốc, nhìn tôi bán từ gói thứ nhất tới gói thứ ba chục. Cách anh ta kẹp điếu thuốc, búng tàn bằng ngón giữa, tôi đã thấy mấy đêm trước qua khe cửa sổ, chỉ có điều lúc đó là một đốm đỏ dưới gốc bần.
Gần hết thúng thì anh ta đi tới, chìa tiền ra mua một gói. Anh Hai đò đang cột ghe dưới bến, thấy vậy thì bỏ dây, lững thững đi lên, đứng sát sau lưng tôi, không nói gì, chỉ khoanh tay. Người đàn ông liếc anh một cái, cười, rồi mở gói bánh ăn ngay tại chỗ.
– Bánh ngon, anh ta nói, miệng còn nhai. Chị Lụa dạo này làm ăn khấm khá quá ha. Bán đắt như vầy thì tiền vô ào ào.
– Đủ ăn thôi anh.
– Đủ ăn là tốt. Có người còn hông đủ trả.
Anh ta gói lại hai cái bánh còn lại, nhét túi áo, gật đầu với tôi một cái rất lịch sự rồi đi lên dốc. Anh Hai đò đứng nhìn theo cho tới khi cái áo sơ mi khuất sau hàng tre.
– Thằng đó đó, Lụa. Mai mốt nó có hỏi gì, em đừng trả lời.
Tôi gật đầu. Tôi muốn hỏi anh Hai đò thêm nhiều chuyện, nhưng chuyến đò thứ ba đã kéo còi, và con Mận đang la tôi lấy thêm lá chuối. Buổi đó tôi thối tiền lộn cho khách hai lần, lần nào cũng lộn về phía có lợi cho khách.
Tin đồn tới nhà vào ngày thứ chín, theo con đường quen thuộc nhất của mọi tin đồn trong xóm: một bà khách mua bánh, vừa lấy tiền thối vừa nói nhỏ với má Tư như người tốt bụng. Tôi đứng sau lưng nên nghe hết. Bà khách nói con Tám nói, con dâu giữ sổ thì ghi sao mà chẳng được, chị Tư mù chữ, nó ghi một trăm, nó bỏ túi năm chục, ai mà biết. Bà khách nói thêm, cái tật ôm hũ tiền thì có bao giờ bỏ được.
Má Tư không nói gì với bà khách. Bà thối tiền, gói bánh, cảm ơn, rồi tiếp tục bán như không có chuyện gì. Nhưng tới trưa, lúc dọn gánh về, bà bước nhanh hơn mọi bữa. Về tới nhà, bà không vô bếp. Bà ngồi xuống bộ ván, đặt cái hộp thiếc ở giữa, rồi chìa tay ra.
– Đưa sổ đây.
Tôi đưa. Bà lật ra, nhìn mấy trang chữ chi chít, rồi gấp lại, đặt xuống bộ ván. Bà không đọc được, và cả hai má con đều biết bà không đọc được. Cái im lặng giữa hai má con lúc đó kéo dài tới mức tôi nghe rõ tiếng con Mực gãi bọ chét ngoài hiên.
Tôi hiểu cái im lặng đó. Ở công ty, mỗi lần có tin đồn kế toán ăn bớt, sếp tôi cũng nhìn sổ sách kiểu y vậy, nhìn cái thứ mình không tự kiểm được mà phải tin người khác kiểm giùm. Cách duy nhất tôi biết để trả lời cái nhìn đó là đừng xin người ta tin mình. Đưa cho người ta cách tự kiểm.
– Má, con chỉ má đọc cột này.
Tôi lấy cây viết, gạch một đường dọc ở mép phải mỗi trang, chia ra ba cột. Cột đầu là số bánh đem đi, cột giữa là số bánh bán được, cột cuối là tiền thu. Toàn số, không có chữ. Tôi chỉ cho má coi từng dòng, đọc to ngày tháng, rồi đổ hộp thiếc ra bộ ván, đếm từng xấp ngay trước mặt bà. Đếm xong, tôi đưa sổ cho bà, chỉ vô con số cuối cột.
– Má coi số này. Rồi má đếm lại tiền. Hai cái mà lệch nhau đồng nào, má kêu con đi liền, khỏi chờ hết tháng.
Má Tư không đếm. Bà ngồi nhìn con số cuối cột rất lâu, ngón tay dò theo từng chữ số như người đang đánh vần. Rồi bà ngẩng lên, hỏi một câu tôi không ngờ:
– Cái số này, chữ số bảy, mày viết có cái gạch ngang ở giữa. Con số bảy của tao hông có gạch. Sao vậy?
– Dạ, để khỏi lộn với số một, má.
Bà gật đầu, như vừa học xong một bài. Rồi bà lấy cây viết trong tay tôi, lật qua trang sau, run run viết thử một con số bảy, có cái gạch ngang ở giữa. Viết xong, bà đẩy cuốn sổ lại cho tôi.
– Cất đi. Từ mai, mỗi chiều đọc số cho tao nghe.
Sáng hôm sau, má Tư không ghé tiệm cô Tám mua đường như mọi bữa. Bà đi tuốt vô tận chợ, mua của một bà bán đường thẻ dưới bến ghe hàng, xa hơn mà khô hơn. Trên đường về, đi ngang tiệm tạp hóa lợp tôn, cô Tám đứng ở cửa kêu chị Tư ơi, đường mới về nè. Má Tư không quay đầu, chỉ nói vọng lại, đủ lớn cho nửa xóm nghe:
– Thôi Tám. Đường bên Tám nặng ký quá, tao xách hông nổi.
Tin đồn thì không vì vậy mà tắt. Mấy bữa sau vẫn có người đứng mua bánh mà mắt cứ liếc cuốn sổ trong tay tôi, như sợ tôi ghi lén tên họ vô đó. Con Mận nghe được, về nhà sau ngồi vo bột mà bóp cục bột mạnh tới mức nước văng tung tóe, miệng lầm bầm cái gì đó nghe như mấy chữ không nên viết ra. Tôi biểu nó thôi, kệ người ta. Nó nói kệ sao được chị, hồi đó con Tám cũng đồn em ăn cắp gạo nhà dì Tư, dì Tư tin, đuổi em về, tới giờ em mới dám bước qua cửa bếp này lần nữa. Tôi đứng im, nhìn qua cửa bếp. Má Tư đang ngồi ngoài hiên lặt rau, lưng quay về phía tụi tôi. Bà không quay lại, nhưng tay bà ngưng bẻ rau một lúc lâu.
Chiều đó, bà Sáu bán xôi ghé nhà, đem cho má một gói xôi vò. Hai bà ngồi ngoài hiên nói chuyện, tôi trong bếp chỉ nghe được một câu của bà Sáu: tui ngồi kế chị ba chục năm, sổ con Lụa ghi tui lấy chịu bao nhiêu, đúng y tui nhớ, không dư một cái.
Mấy ngày đó anh Lộc về nhà mỗi lúc một trễ. Có bữa anh về lúc tôi đã ra bến, có bữa anh không về. Má Tư hỏi, anh nói đi phụ ghe hàng lên tỉnh. Má tin. Tôi thì để ý thấy cái áo ba lỗ của anh không dính mùi cá, mùi lúa hay mùi dầu ghe, chỉ dính mùi khói thuốc rê và một thứ mùi chua chua của rượu đế.
Tối thứ mười hai, theo lời má dặn, tôi ngồi đọc số cho má nghe. Đọc xong ngày hôm đó, tôi tiện tay lật ngược lên mấy trang đầu, tính dò lại giá mua bột từ hồi Tết để coi gánh có đang bị mua đắt không. Mấy trang đầu là chữ con Lụa, tròn trịa, đè mạnh tay. Tiền mua bột ở lò ông Năm ghi đều đặn, tuần nào cũng có, và dòng nào cũng kèm hai chữ đã trả. Con Lụa mua bột bằng tiền mặt, không chịu một đồng.
Tới trang ngày mười bốn tháng hai, tôi dừng lại. Dưới dòng ghi tiền bánh, sát mép giấy, có một dòng chữ nhỏ hơn hẳn mấy dòng khác, viết nghiêng như sợ ai đọc được: anh Lộc đưa giấy mua chịu bột ở lò ông Năm, biểu em lăn tay, em lăn rồi.
Tôi lật lại mấy trang trước, mấy trang sau. Từ Tết tới giờ, nhà này chưa từng mua chịu ở lò ông Năm một ký bột nào. Vậy mà có một tờ giấy mua chịu, có dấu lăn tay của con Lụa, nằm ở đâu đó ngoài kia. Tôi nhớ tới cái thau nhôm rớt xuống nền đất nhà sau, đúng lúc tôi nói hai chữ lăn tay.
Đọc Truyện Cùng Su