Chương 3
– Bớt một phần mười? Mày điên hả Lụa?
Má Tư đập cây quạt mo xuống bộ ván, mấy hột cơm dính trên đó văng lên. Tôi đã tính trước bà sẽ đập cái gì đó, nên ngồi xa ra một chút. Trên đùi tôi là cuốn sổ xanh với miếng ván ép tôi lượm sau chuồng gà, đã lấy than kẻ thành ô.
– Dạ, chỉ bớt cho ai trả trong bảy ngày thôi má. Qua bảy ngày thì trả đủ, hông bớt đồng nào.
– Tiền của tao, mày đem cho người ta.
– Má, ngoài cô Tám ra, xóm mình còn mười một nhà lấy chịu. Cộng lại hơn ba trăm cái bánh, nằm trong bụng người ta từ Tết. Tới giờ má thu về được đồng nào chưa?
Má Tư không trả lời. Tôi nói tiếp, chậm thôi, như hồi ngồi giải thích cho mấy ông chủ vì sao phải trích dự phòng nợ khó đòi:
– Một trăm cái mà bớt mười, mình lấy về chín chục. Còn để nguyên một trăm mà người ta cứ hẹn bữa sau, thì mình lấy về hổng cái nào. Má chọn cái nào?
– Mày nói nghe ngon dữ. Lỡ bớt rồi người ta cũng hông trả thì sao?
– Thì con đền.
Tôi nói câu đó không suy nghĩ, nói xong mới nhớ mình đang nợ bà phân nửa cái hũ. Má Tư cũng nhớ ra, vì bà nhìn tôi bằng con mắt của người vừa thấy con nợ đi bảo lãnh cho người khác. Rồi bà chỉ cây quạt vô miếng ván trên đùi tôi.
– Còn cái đó là cái gì?
– Bảng chịu, má. Từ nay ai lấy chịu thì tự gạch một vạch kế tên mình. Gạch bằng tay người ta, khỏi ai cãi ai ghi lộn.
– Ghi tên người ta lên ván cho cả chợ coi, người ta mắc cỡ muốn độn thổ.
– Con ghi mặt trong. Ai lấy chịu thì con lật ra cho người đó coi tên người đó thôi.
Má Tư ngồi im một hồi lâu, ngón tay gõ gõ lên cây quạt. Rồi bà đứng dậy, đi vô buồng, nói vọng ra:
– Bảy ngày. Mất đồng nào mày đền đồng đó.
Sáng hôm sau, người trả đầu tiên là bà Sáu bán xôi. Tôi vừa nói tới chữ bớt là bà chồm qua thúng xôi, hỏi lại hai lần cho chắc, rồi móc trong lưng quần ra cái khăn mùi xoa cột túm bốn góc. Bà trả đủ, đếm từng đồng, đếm xong còn đẩy qua cho tôi một nắm xôi đậu xanh.
– Bớt cho tui thì tui cho lại con. Con nhỏ này ăn ít quá, ốm nhom như cây sậy.
Má Tư ngồi kế bên, giả bộ lo xếp bánh, tai thì vểnh qua. Tới khi bà Sáu quay về sạp mình, má mới nói nhỏ, không nhìn tôi:
– Bà Sáu chịu của tao từ hồi ông Tư còn sống.
Con dâu ông Ba cần câu trả được phân nửa, hẹn phân nửa kia bữa ông Ba bán được mớ cá lóc. Tôi ghi ngày hẹn vô sổ, đọc lại cho chị nghe, chị gật. Ba nhà khác cũng trả trong ngày thứ hai, thứ ba. Có nhà trả bằng tiền, có nhà trả bằng nửa giạ gạo, có nhà trả bằng một rổ trứng vịt mà tôi phải ngồi quy ra giá bánh tới nhức đầu. Má Tư thì nhất định không chịu nhận trứng vịt lộn.
– Nhà mình đâu có ai ăn hột vịt lộn. Đổi lấy bột.
Rắc rối nhất là anh Hai đò. Anh nợ hai chục cái bánh, mà trong túi lúc nào cũng chỉ đủ tiền mua thuốc rê. Tôi ra bến tìm anh, anh đang ngồi chồm hổm trên mũi ghe, gãi đầu gãi tai.
– Tiền thì anh hông có, Lụa. Cá cũng hông có. Anh có cái ghe với hai cánh tay.
– Vậy anh trả bằng ghe.
– Hả?
– Sáng nào má con cũng gánh bánh ra chợ, đi vòng qua cầu khỉ mất gần ba chục phút. Anh chở dùm qua sông, mỗi chuyến con trừ cho anh một cái bánh. Hai chục chuyến là hết nợ.
Anh Hai đò ngồi tính trên mấy đầu ngón tay, tính hai lần, rồi cười toe:
– Chở con Lụa thì anh chở. Chở dì Tư thì anh nhức đầu, dì ngồi trên ghe la anh chèo lệch suốt.
Tôi không nói gì, chỉ ghi vô sổ. Sáng hôm sau, má Tư ngồi trên ghe anh Hai đò, la anh chèo lệch suốt.
Nhà cuối cùng tôi tới là nhà con Út Mận, nằm cuối xóm, sát mé ruộng. Nhà lá mà mái thủng một khoảng bằng cái nia, phía dưới đặt cái thau hứng. Chồng Mận nằm trên võng, ho từng tràng dài, mỗi lần ho cái võng lắc lư như có người đẩy. Đứa nhỏ chừng ba tuổi ngồi dưới đất chơi với cái lon sữa bò rỗng. Mận thấy tôi tới thì đứng sững ngay cửa, hai tay chùi chùi vô vạt áo dù tay không dính gì.
– Chị Lụa… em biết em nợ dì Tư. Em hông có quên đâu. Để qua mùa lúa…
Tôi nhìn cái thau hứng nước dưới mái thủng, nhìn cái lon sữa bò trong tay đứa nhỏ. Dân kế toán có một khái niệm gọi là nợ không có khả năng thu hồi. Ngồi trong văn phòng, tôi ghi nó bằng một dòng, gạch một đường, xong. Đứng ở đây, nó có tên, có đứa con ba tuổi và một ông chồng ho không dứt.
– Mận dậy sớm được hông?
– Dạ?
– Sáng nào nhà chị cũng phải rửa khuôn, vo bột từ ba giờ. Mận qua phụ chị một tiếng, chị trừ nợ cho Mận mỗi bữa ba cái bánh. Cỡ một tuần là xong.
Mận nhìn tôi như chưa hiểu, rồi hiểu. Nó bước tới nắm lấy tay tôi, bóp mạnh tới mức mấy khớp ngón tay tôi kêu răng rắc. Nó không nói gì hết. Trên võng, chồng nó ngưng ho một chút, quay đầu nhìn ra.
Tối đó tôi kể lại cho má Tư nghe hết, từ bà Sáu tới con Mận. Tới chỗ con Mận, tôi nói nhỏ lại, chuẩn bị tinh thần bị chửi vì làm chủ thay bà. Má Tư đang ngồi lặt rau muống, tay vẫn bẻ đều. Bà im lâu tới mức tôi tưởng bà không nghe.
– Con Mận hồi nhỏ ở đợ cho nhà tao, bà nói. Hồi đó nó mới mười tuổi, ốm tong teo.
Bà bẻ thêm một cọng rau, rồi nói tiếp:
– Sáng mai kêu nó qua sớm. Cho nó ăn sáng rồi hẵng làm. Đói thì vo bột hông có đều tay.
Ba giờ kém mười lăm sáng hôm sau, con Mận đã đứng sẵn ngoài cửa bếp, chân không, tóc cột bằng sợi dây thun. Má Tư mở cửa, nhìn nó một cái, không hỏi han gì, chỉ đẩy qua cho nó chén cháo trắng với mấy con khô cá sặc nướng. Mận ăn đứng, ăn lẹ, ăn xong tự đi rửa chén rồi ngồi xuống cạnh thau bột. Nó vo bột đều tay hơn tôi, nhanh hơn tôi, và chỉ cho tôi cách ngâm khuôn bằng nước tro cho bột khô tự bong. Tôi trừ nợ cho nó ba cái bánh mà thấy mình lời.
Đêm thứ tư, tôi đang ngủ thì nghe tiếng sột soạt ở góc nhà sau. Tôi mở mắt, thấy anh Lộc ngồi chồm hổm cạnh cái kệ, tay đang mò vô cái hộp thiếc đựng tiền gánh. Anh không ngờ tôi thức, giật mình tới mức cái nắp hộp rớt xuống nền đất, kêu một tiếng keng.
– Anh mượn chút, ảnh nói lẹ. Mai anh trả.
– Mượn làm chi anh?
– Thì… chuyện đàn ông. Em đừng hỏi.
Tôi ngồi dậy, với tay lấy cuốn sổ dưới chiếu, lật ra một trang trắng. Tôi không la, không giành, chỉ mở nắp cây viết bic.
– Anh lấy bao nhiêu thì nói con số, em ghi tên anh vô đây, ghi ngày, ghi luôn chữ mượn. Sáng mai má dò sổ, má thấy số lệch thì má biết tiền đi đâu.
Anh Lộc nhìn cây viết trong tay tôi như nhìn con rắn. Anh từ từ rút tay ra khỏi hộp, đậy nắp lại, đặt lên kệ y chỗ cũ. Lúc đi ngang chõng, anh nói nhỏ, giọng không giận mà gần như ngạc nhiên:
– Hồi trước em đâu có vậy, Lụa.
Anh đi rồi, tôi mở hộp đếm lại. Không thiếu đồng nào. Nhưng tôi biết người ta không mò hộp tiền lúc nửa đêm vì chuyện đàn ông, người ta mò vì đang bị ai đó hối.
Tới cuối tuần, mười một nhà trả được chín nhà, nhà thứ mười hẹn được ngày, nhà thứ mười một là nhà con Mận, đang trừ dần bằng công mỗi sáng. Tiền thu về nằm gọn trong hộp thiếc, cộng với phần cô Tám trả bữa trước. Má Tư lấy ra đếm, chia hai như lần trước, một phần cho gánh, một phần bà mở hũ bỏ vô. Tôi đứng ở cửa buồng nhìn. Hũ lên được chừng hai đốt ngón tay. Còn xa lắm mới tới chỗ đầy, nhưng tôi biết đếm, và hai đốt ngón tay trong năm ngày là con số không tệ.
Bảng chịu thì dựng ở góc gánh. Sáng thứ bảy, có một bà khách lạ hỏi lấy chịu năm cái. Tôi chưa kịp mở miệng, má Tư đã hất cằm về phía tôi.
– Hỏi con Lụa. Sổ nó giữ.
Bà nói câu đó tỉnh bơ, mắt vẫn nhìn xuống thúng bánh, như chuyện con dâu giữ sổ là chuyện nhà này xưa giờ vẫn vậy. Bà khách quay qua tôi. Tôi lật miếng ván, ghi tên bà vô một ô trống, đưa cục than cho bà tự gạch năm vạch. Tay tôi cầm cục than mà còn hơi run. Cô Tám đi chợ ngang qua, liếc miếng ván một cái, nói đủ lớn cho mấy gánh kế bên nghe: bán có cái bánh mà bày đặt sổ sách như nhà băng. Bà Sáu bán xôi nói lại liền, không cần ngẩng đầu: có sổ sách thì khỏi ai ăn quỵt, Tám ha. Cô Tám đi thẳng, không ngoái lại lần nào.
Chiều hôm đó tôi ra bến đò trả anh Hai đò hai cái bánh lẻ, coi như tiền boa cho mấy chuyến bị má Tư la. Anh nhận bánh, cắn một miếng, rồi không nhai nữa. Anh nhìn quanh bến, thấy không có ai mới ngoắc tôi lại gần.
– Lụa, ba đêm nay có một thằng thuê ghe anh qua bên kia sông. Nó trả tiền sòng phẳng, hông mặc cả. Qua tới nơi thì nó ngồi dưới gốc bần, ngó qua bên này tới gần sáng mới kêu anh chở về.
– Ngó cái gì anh?
Anh Hai đò hất cằm về phía bên này sông. Từ chỗ bến nhìn thẳng qua là mấy mái nhà lá trong xóm, và cái mái thấp nhất, có cây dừa nghiêng ở góc, là nhà má Tư.
– Thằng đó anh biết mặt. Nó làm cho Sáu Lợi.
– Sáu Lợi là ai anh?
Anh Hai đò nhìn tôi lâu như nhìn người lạ. Anh hạ giọng xuống, nhỏ tới mức tôi phải cúi sát mới nghe:
– Em hông biết Sáu Lợi thiệt hả? Ai thiếu tiền Sáu Lợi thì ban đêm khó ngủ lắm. Tối hôm qua, lúc anh chở về, thằng đó hỏi anh một câu.
– Câu gì?
– Nó hỏi con Lụa sáng nào cũng ra chợ giờ đó hả, có khi nào đi một mình hông.
Đêm đó tôi không nằm trên chõng. Tôi ngồi sau cánh cửa sổ nhà sau, mở hé một khe bằng hai ngón tay, nhìn qua sông. Con Mực nằm dưới chân tôi, lâu lâu gầm gừ trong cổ. Gần nửa đêm, bên kia sông, dưới một gốc cây đen thui sát mé nước, có một đốm đỏ sáng lên, mờ đi, rồi sáng lên. Đó là đầu điếu thuốc của một người đang ngồi hút, và người đó ngồi đúng chỗ nhìn thẳng vô cái cửa sổ tôi đang núp.
Đọc Truyện Cùng Su