Chương 2
Mẻ bánh bò đầu tiên trong đời tôi xẹp xuống ngay trước mặt má chồng lúc ba giờ rưỡi sáng. Nó không xẹp cái rụp cho xong chuyện. Nó xẹp từ từ, lõm ở giữa trước, rồi mép khuôn co lại, như cái bánh cũng biết ngại. Má Tư ngồi chồm hổm bên bếp lò, tay cầm cây quạt mo, nhìn cái bánh rồi nhìn tôi.
– Nước chưa sôi mày đã đổ khuôn. Bánh nó lạnh bụng thì nó nở bằng cái gì?
Tôi định nói con tưởng sôi rồi, mà nghĩ lại thấy câu đó chỉ làm mình ngu thêm. Má Tư lấy cây đũa xăm thử cái bánh, rút lên, đầu đũa dính một cục bột trắng nhão. Bà gõ đũa vô thành nồi hai cái, cục bột rớt vô bếp nghe xèo một tiếng.
– Cái đó của mày. Ăn sáng.
Mẻ thứ hai tôi rút kinh nghiệm. Tôi chờ nước sôi sùng sục, lấy cái lon sữa bò đong bột, đong đường, đong nước cốt dừa, đếm từng lon, tính tỷ lệ trong đầu như làm bảng giá thành. Má Tư ngồi coi, không nói gì, chỉ chép miệng một cái lúc tôi gạt đường cho bằng miệng lon. Bánh nở. Nở đẹp, xăm đũa sạch trơn. Tôi cắn một miếng thì ngọt tới rít cổ, ngọt tới mức tôi nghe hai cái răng hàm của con Lụa kêu cứu. Má Tư cắn một miếng, nhổ ra lá chuối.
– Đường mua của con Tám, nó trộn nước cho nặng ký. Đong bằng lon thì mày đong luôn nước của nó.
Mẻ thứ ba tôi bớt đường thì lại múc nhầm thau bột ủ từ hôm kia, bánh chua như ai vắt chanh vô. Tới đó má Tư đứng dậy, phủi quần, đẩy tôi ra khỏi bếp. Bà không đong gì hết. Bà múc bột bằng cái vá dừa, rưới đường bằng tay, nếm một đầu ngón, đổ thêm chút nước cốt, khuấy mười mấy vòng rồi đổ khuôn. Hai chục cái bánh ra lò cái nào cũng nở đều, ruột có rễ tre đan dọc từ dưới lên, mặt bóng như được ai lau.
– Má bỏ bao nhiêu đường vậy má?
– Tay tao biết.
– Mà tay má biết bao nhiêu?
– Biết đủ.
Kiểu người như má Tư tôi không hỏi công thức được. Họ không giấu, họ thiệt tình không biết con số nằm ở đâu, nó nằm trong tay, trong lưỡi, trong ba chục năm đứng bếp. Muốn biết thì phải ngồi đếm thay họ. Mẻ thứ năm, thứ sáu, tôi ngồi xổm cạnh lò, vừa ăn bánh hư vừa đếm số vá bột má múc, số lần bà rưới đường, nhẩm trong đầu rồi ghi bằng que tre lên nền đất. Lúc má quay lại, tôi lấy chân xóa.
Năm giờ, má gánh, tôi xách cái rổ đựng lá chuối với hộp thiếc đựng tiền, hai má con đi ra chợ. Chợ thị trấn nằm sát bến đò, dãy sạp cá phía trong, mấy gánh đồ ăn sáng ngồi dọc lối đi ngoài cùng. Má Tư ngồi chỗ quen, kế bà bán xôi, đặt hai cái thúng xuống, giở khăn ra. Hơi bánh bay lên, mùi nước cốt dừa trộn mùi lá chuối, người đi chợ ngang qua là phải ngó.
Tôi đếm lúc ở nhà: một trăm hai chục cái. Tới lúc trời sáng bạch, hai cái thúng trống trơn. Hộp thiếc thì không nặng như tôi tưởng. Tôi để ý cả buổi, cứ ba người mua thì có một người nói chị Tư ghi đó nghen, rồi cầm bánh đi. Má Tư gật. Bà không ghi gì hết. Bà không có cái gì để ghi.
Trên đường về, tôi hỏi:
– Má, mấy người lấy chịu bữa nay, má nhớ hông?
– Nhớ chớ. Con Út Mận năm cái, thằng Hai đò bốn cái, bà Sáu bán xôi hai cái, con dâu ông Ba cần câu ba cái…
Bà kể một hơi, không sót ai, rồi tới một cái tên thì khựng lại.
– Con Tám thì lâu rồi, để nó tính sau.
– Lâu là bao lâu má?
– Từ Tết.
Tôi đứng lại giữa đường. Gánh bánh bán một buổi được một trăm hai chục cái, nhà có của chôn sau hè, vậy mà từ Tết tới giờ có người lấy bánh không trả, chủ gánh để “tính sau”. Hồi làm cho mấy công ty nhỏ, cái mục “tính sau” luôn là mục chảy tiền nhiều nhất trong sổ, nhiều hơn cả mục bị trộm. Tôi móc trong túi áo bà ba ra cuốn sổ bìa xanh. Từ sáng tới giờ nó nằm sát ngực tôi, ấm hổi.
– Mày đem cuốn đó ra chợ làm chi?
Tôi không trả lời, lật một mạch qua mấy trang đầu. Chữ con Lụa tròn trịa, viết chậm, nét nào cũng đè mạnh tay như sợ chữ bay mất. Ngày nào cũng có, bán bao nhiêu cái, thu bao nhiêu tiền, và dưới cùng là mấy dòng ghi chịu. Tên Tám xuất hiện gần như bữa nào cũng có. Tôi lấy ngón tay dò, nhẩm cộng. Tới trang ngày mười ba tháng ba, tôi ngẩng lên.
– Cô Tám lấy chịu một trăm tám mươi bảy cái, má.
– Tầm bậy. Nó lấy đâu cỡ đó.
– Rằm tháng giêng, cô lấy ba chục cái, nói để cúng. Mùng hai tháng hai, đám giỗ ba chồng cô, hai chục cái. Còn lại bữa sáu cái, bữa tám cái, mua cho mấy đứa cháu ăn sáng.
Má Tư đứng im. Gánh trên vai bà lắc qua lắc lại một hồi mới dừng. Bà nhìn cuốn sổ trong tay tôi lâu tới mức tôi tưởng bà đang đọc, rồi bà hỏi:
– Mày ghi hồi nào vậy?
– Con ghi mỗi bữa, má.
Tôi nói vậy vì con Lụa đã ghi mỗi bữa, và giờ con Lụa là tôi. Má Tư quay đi, bước tiếp.
– Tao thấy mày cầm cây viết, tao tưởng mày vẽ bậy. Tao biết đọc số, chớ chữ thì tao mù.
Tiệm tạp hóa của cô Tám nằm ngay đầu ngõ, là căn nhà duy nhất trong xóm lợp tôn. Trưa đó tôi qua lấy hai ký đường má hứa bữa trước, má Tư đi theo sau, tay cầm cái nón lá, mặt tỉnh bơ như người đi ngang. Trong tiệm có ba bốn người đang mua nước mắm, mua thuốc rê, trong đó có bà Sáu bán xôi với con dâu ông Ba cần câu. Hôm qua họ đứng ngoài ngõ coi tôi bị bắt. Bữa nay họ quay lại nhìn tôi như nhìn con cá rô vừa nhảy lên từ thau nước.
Cô Tám thấy tôi thì nhếch môi, lôi dưới gầm tủ ra một cuốn tập học trò dày cộm, bìa dán băng keo.
– Hai ký đường, ghi cho chị Tư. Mà chị Tư nợ tui lâu rồi nghen, đường nè, dầu lửa nè, bột ngọt nè. Để tui cộng cho coi.
Cô cộng lớn tiếng, cố ý cho cả tiệm nghe. Tôi đứng chờ cô cộng xong, ghi con số đó vô cuốn sổ xanh, rồi đổi nó ra số bánh theo giá má bán ngoài chợ. Ra chừng một trăm lẻ năm cái.
– Dạ, vậy để con cấn trừ cho cô luôn.
– Cấn cái gì?
– Má con nợ cô tiền đường, tiền dầu, quy ra là một trăm lẻ năm cái bánh. Cô nợ má con một trăm tám mươi bảy cái bánh từ Tết tới giờ. Trừ qua trừ lại, cô còn nợ nhà con tám mươi hai cái. Hai ký đường bữa nay con trừ luôn vô đó, còn bảy mươi cái. Cô trả tiền mặt hay trả bằng hàng cũng được.
Cô Tám nhìn tôi chằm chằm, rồi cười khẩy:
– Con nhỏ này té hư đầu thiệt rồi. Tao lấy của má mày có mấy cái bánh, mày đổ cho tao gần hai trăm.
Tôi không cãi. Tôi mở cuốn sổ ra, đọc. Tôi đọc chậm, rõ từng chữ, như hồi đọc biên bản đối chiếu công nợ cho mấy ông giám đốc khó tính nghe. Rằm tháng giêng, ba chục cái, cúng rằm. Mùng hai tháng hai, hai chục cái, đám giỗ. Mùng chín tháng hai, tám cái. Tới dòng thứ năm thì bà Sáu bán xôi bật cười.
– Đám giỗ ông già chồng con Tám tui có ăn bánh bò đó nghen. Bánh chị Tư, tui biết, ruột rễ tre.
Con dâu ông Ba cần câu che miệng. Cô Tám đỏ mặt từ cổ lên tới trán. Cô đứng sau quầy, tay vẫn đè lên cuốn tập học trò như sợ nó mở ra một trang nào đó mà cô không muốn ai đọc. Tôi gấp sổ lại, để lên quầy, ngay kế cuốn tập của cô.
– Con hông có ý gì đâu cô. Bên cô có sổ, bên con có sổ, mình để hai cuốn kế nhau, cái nào lệch thì mình coi lại. Cô thấy dòng nào con ghi sai, cô chỉ, con gạch liền.
Cô Tám không chỉ dòng nào. Cô kéo hộc tủ, lục một hồi, đếm tiền xuống quầy, đếm mạnh tay tới mức tờ bạc trên cùng bị nhăn một góc. Đếm tới đâu, má Tư đứng sau lưng tôi nói vọng lên tới đó:
– Đếm đủ nghen Tám.
Tôi xách hai ký đường với một nắm tiền ra khỏi tiệm. Ra tới ngõ mới thấy chân mình run. Cả đời tôi đòi nợ bằng email, bằng công văn, chưa lần nào đòi nợ bằng giọng miền Tây với một bà chủ tiệm cao hơn mình một cái đầu.
Về tới nhà, má Tư đưa tay ra. Tôi đặt nắm tiền vô tay bà. Bà đếm hai lần, lần thứ hai nhanh hơn lần đầu. Rồi bà rút ra phân nửa, nhét lại vô tay tôi.
– Phần này tính vô tiền mày trả. Phần này là tiền bánh, của gánh.
– Má, cái này là tiền nợ cũ của gánh mà má.
– Tao biểu sao thì nghe vậy.
Bà quay vô bếp. Một hồi bà quay ra, quăng lên bộ ván một cái bánh bò còn ấm, ruột rễ tre, mặt bóng.
– Ăn đi. Ăn mấy cục đế dép hoài, tối mày đau bụng tao còn phải dậy nấu nước gừng.
Chiều đó tôi ra sau hè rửa khuôn ở cái cầu ván bắc ra mương. Mấy chục cái khuôn nhôm nhỏ bằng nắm tay, bột khô bám cứng, phải ngâm rồi lấy xơ mướp chà từng cái. Tôi đang chà tới cái thứ mười mấy thì nghe tiếng dép lẹp xẹp sau lưng.
Anh Lộc ngồi xuống đầu cầu ván, giả bộ rửa tay. Anh rửa lâu, rửa kỹ, hết lòng bàn tay tới mu bàn tay, mắt thì không nhìn tay mà nhìn về phía nhà trên. Tới khi chắc má Tư không có ở cửa sau, anh mới nói, giọng nhỏ:
– Bữa nay em gan dữ.
– Gan gì anh?
– Đòi nợ con Tám. Cả xóm đồn rồi.
Tôi chà tiếp cái khuôn. Anh Lộc ngồi im một hồi. Trong túi quần sau của anh lòi ra một góc giấy cứng, in hình trái tim đỏ, gấp đôi. Tôi không chơi bài bao giờ, nhưng tôi biết hình lá bài cơ.
– Lụa, ảnh nói. Em đừng nói gì với má nghen.
– Nói gì anh?
Anh Lộc quay qua nhìn tôi. Anh nhìn kỹ, lâu, giống như đang dò xem tôi giả bộ hay không. Tôi cũng nhìn lại, cố làm cái mặt của người biết rõ chuyện mà không muốn nói ra. Nghề kế toán dạy tôi cái mặt đó từ năm thứ hai đi làm.
– Thì chuyện đó. Em biết mà. Má mà biết là má xỉu, rồi nhà này tan.
Anh đứng dậy, chùi tay vô quần, đi vô nhà. Tới bậc cửa anh còn quay lại, nói thêm một câu, lần này giọng gần như năn nỉ:
– Ráng qua tháng này thôi Lụa. Anh lo được.
Tôi ngồi lại trên cầu ván, tay cầm cái khuôn nhôm chà dở, nước mương chảy ngang chân. Con Lụa biết một chuyện mà anh Lộc sợ má biết tới mức phải ra sau hè năn nỉ. Còn tôi đang mang cái thân của con Lụa mà không có cái trí nhớ nào của nó. Vậy là trong nhà này có hai người giữ chung một bí mật, và người được dặn phải giữ kỹ nhất lại là người duy nhất không biết bí mật đó là gì.
Đọc Truyện Cùng Su