Đọc Truyện Cùng Su
← Làm Dâu Năm 90

Chương 1

Tôi mở mắt ra thì thấy mình đang ôm một cái hũ sành nặng trịch, chân không, đứng giữa con đường đất, trước mặt là cả chục người đang la bắt được rồi. Năm phút trước tôi còn ngồi trong văn phòng máy lạnh ở quận 7, lật cuốn sổ cũ mua ba chục ngàn ở chợ đồ cũ. Giờ thì một bà già tóc búi củ hành chỉ thẳng mặt tôi, kêu tôi là đồ ăn cắp.

– Con Lụa! Mày đứng lại đó cho tao!

Tôi đứng lại thiệt, mà không phải vì nghe lời. Tôi đứng vì không biết chạy đi đâu. Hai bên là hàng rào bông bụp, sau lưng là con mương nước đục ngầu, trước mặt là bà già, sau lưng bà là một đám người cầm đủ thứ trên tay, cây chổi chà, cái vá múc canh, có ông còn cầm nguyên cây cần câu. Một con chó vàng chạy vòng vòng sủa, sủa chán thì quay qua liếm chân tôi. Chắc nó là sinh vật duy nhất ở đây chưa nghe tin tôi ăn cắp.

Tôi cúi xuống nhìn cái hũ. Hũ sành màu da lươn, miệng bịt lá chuối, cột dây lác. Hai cánh tay đang ôm nó đen nhẻm, gầy nhom, móng tay còn dính bột trắng. Tay tôi đâu có vậy. Tay tôi trắng, sơn móng màu nude, cổ tay đeo cái đồng hồ thông minh tối nào cũng nhắc đi ngủ mà tôi chưa nghe nó lần nào. Tôi nhìn xuống nữa, thấy cái áo bà ba màu cháo lòng vá hai miếng ở vai, cái quần đen xắn tới gối, hai bàn chân trần dính sình lên tới mắt cá.

Một bà mập mặc áo bông hoa đỏ chen lên trước, giọng to hơn cái loa đầu ấp:

– Tui nói rồi mà chị Tư! Tui thấy nó lén ra sau hè từ hồi gà gáy, tui biết liền nó tính chuyện gì! Con dâu gì rước về ba năm, ôm hũ tiền của má chồng chạy ra ngõ!

Người ta ồ lên. Có người chậc lưỡi, có người nói tội nghiệp chị Tư, có người nói hồi đó tui nói rồi, cưới con nhỏ bên kia sông làm chi. Tôi không biết bên kia sông là bên nào. Tôi chỉ biết cái tên Lụa là đang nói tôi, và cái bà tóc búi chắc là má chồng tôi, một bà má chồng tôi mới quen được chừng một phút rưỡi.

Thứ cuối cùng tôi nhớ được là cuốn sổ. Bìa vải xanh rêu, góc dưới có vết cháy hình miệng chén, tôi mua ở sạp đồ cũ vì cái bìa đẹp, tính về ghi chi tiêu cho ra dáng người biết lo. Chiều nay tăng ca rảnh tay, tôi lật ra coi. Trong đó toàn chữ viết tay, ngày nào bán được bao nhiêu cái bánh bò, ai lấy chịu bao nhiêu. Chữ chỉ kín chừng mười mấy trang đầu, mấy chục trang sau trắng trơn. Lật tới trang cuối thì thấy đúng hai chữ “Khóa sổ”, nét nghiêng qua phải, chữ K có cái móc ở đuôi y như kiểu tôi ký chứng từ. Tôi còn bật cười, nghĩ dân buôn bán hồi xưa cũng biết khóa sổ. Rồi màn hình laptop chớp một cái, và tôi đứng đây.

Tôi làm kế toán mười hai năm. Mười hai năm đó tôi gặp đủ thứ chuyện: lệch sổ cả trăm triệu đêm ba mươi Tết, sếp ký nhầm hóa đơn, thuế xuống kiểm tra đúng tuần tôi sốt ba mươi chín độ. Chưa lần nào tôi bị nguyên một cái xóm vây vì tội ôm cái hũ mà tôi còn không biết bên trong có bao nhiêu. Nhưng nghề dạy tôi một chuyện: bị bắt quả tang thì đừng cãi cái đã rõ, cãi cái chưa rõ. Cái đã rõ là hũ đang nằm trong tay tôi. Cái chưa rõ là tôi ôm nó đi đâu.

Đứng sau bà má chồng có một người đàn ông chừng ba mươi, mặc áo thun ba lỗ, hai tay xỏ túi quần. Anh nhìn tôi đúng một cái rồi cúi xuống, nhìn đất chăm chú như dưới đất có rớt tiền. Cả xóm đang la, chỉ có anh im.

Ông cầm cần câu đằng hắng:

– Thôi chị Tư, dẫn nó lên ấp cho người ta lập biên bản, chớ để vầy hoài sao được.

Bà Tư gật. Bà vừa gật là tôi nói liền:

– Dạ, con ôm hũ. Hũ nhà mình. Má muốn dẫn con lên ấp thì con đi, con hông cãi.

Xóm im một chút, chắc không ai nghĩ con Lụa chịu nhận lẹ vậy. Tôi siết cái hũ vô bụng, nói tiếp, cố ý nói lớn cho bà áo bông hoa nghe cho rõ:

– Mà lên ấp thì người ta phải mở hũ ra đếm, ghi biên bản trong hũ có bao nhiêu xấp bạc, mấy chỉ vàng. Rồi cả ấp biết nhà mình chôn bao nhiêu tiền sau hè. Má tính coi, từ rày về sau đêm nào má ngủ yên?

Bà Tư khựng lại. Cái khựng đó tôi quen lắm, tôi đã thấy nó trên mặt không biết bao nhiêu ông chủ doanh nghiệp mỗi lần tôi hỏi anh muốn khai đúng hay khai cho đẹp. Bà liếc qua bà áo bông hoa, liếc qua ông cầm cần câu, liếc xuống cái hũ, rồi giật phắt nó khỏi tay tôi, ôm vô lòng như ôm đứa cháu nội.

– Chuyện nhà tui, tui xử. Bà con về đi.

Bà áo bông hoa la lên:

– Ủa chị Tư, vậy tui thức từ gà gáy để chi?

– Về! Mai tui lấy chịu thêm hai ký đường, Tám ghi sổ giùm tui.

Bà Tám, giờ tôi mới biết bà tên Tám, mở miệng định nói gì đó rồi ngậm lại. Hai ký đường hiệu nghiệm hơn tôi tưởng. Đám đông rã ra, mỗi người đi một ngả, vừa đi vừa ngoái. Con chó vàng ở lại, ngồi xuống cạnh chân tôi, vẫy đuôi như hai đứa vừa cùng thắng một vụ kiện.

Nhà bà Tư cách đầu ngõ chừng năm chục bước, nhà lá vách ván, nền đất nện láng bóng. Vừa bước vô là mùi bột gạo chua chua trộn với mùi khói bếp xộc lên mũi. Giữa nhà có bộ ván gõ, phía trên là bàn thờ có tấm ảnh một người đàn ông đội nón cối, mặt hiền khô. Tôi đoán đó là ba chồng mình. Tôi đứng khúm núm ở cửa, không biết con dâu nhà này được phép ngồi chỗ nào.

Bà Tư ngồi xuống bộ ván, đặt cái hũ lên đùi. Bà không mở nó ra. Người đàn ông áo ba lỗ đứng dựa cột cửa sau, vẫn chưa nói tiếng nào.

– Mày tính đem tiền đi đâu? Đem cho thằng nào?

Tôi mở miệng rồi đóng lại. Tôi không biết thiệt. Tôi còn không biết mình đang ở tỉnh nào, năm nào. Trên vách có cuốn lịch bloc xé dở, tờ trên cùng ghi ngày mười bốn tháng ba năm một ngàn chín trăm chín mươi. Đọc tới con số đó, tôi phải vịn vô cánh cửa.

– Dạ… bà cho con…

Bà Tư quắc mắt:

– Bà? Mày kêu tao bằng bà?

– Dạ, má. Con lộn. Hồi nãy con té ngoài ngõ, đầu con lùng bùng, má nói gì con cũng nghe như ở dưới nước.

Tôi đưa tay xoa đầu cho có. Bà Tư nhìn tay tôi, nhìn mặt tôi, rồi nói giọng đều đều:

– Hồi gà gáy mày còn nhớ đường ra sau hè, nhớ chỗ tao chôn hũ, nhớ lựa đúng lúc tao đi đổ nước gạo. Giờ té có một cái mà quên kêu má?

Tôi bỏ tay xuống. Kiểu người này tôi gặp ở công ty hoài, thường là trưởng ban kiểm soát, và cách duy nhất để sống với họ là đưa con số ra trước khi họ kịp hỏi.

– Má, con hông nói được con đem tiền đi đâu. Mà con trả. Má cho con một tháng.

– Một tháng? Mày lấy gì trả?

– Con bán bánh.

Bà Tư cười. Bà cười đúng một tiếng, ngắn như tiếng mõ.

– Mày về làm dâu ba năm, đổ bánh bò chưa nở được cái nào cho ra hồn. Bánh mày làm ra cục nào cục nấy chai như đế dép. Tháng rồi tao đem cho gà, gà cũng bỏ.

Tôi không biết làm bánh bò thiệt. Tôi chỉ biết ăn, mà cũng ăn ở tiệm. Nhưng tôi biết một chuyện: một gánh bánh ngoài chợ nuôi được cả nhà mà còn dư tiền chôn sau hè thì gánh đó có lời, và cái gì có lời thì tôi làm cho nó lời hơn được.

– Con hông biết làm thì con học. Hết một tháng con trả đủ, dư ra con đưa má luôn. Hông đủ thì con tự cuốn gói, má khỏi đuổi.

Bà Tư nhìn cái hũ trên đùi. Bà nhìn lâu, ngón cái miết lên miếng lá chuối bịt miệng hũ. Tôi biết bà đang tính. Đuổi con dâu về bên kia sông thì tiền mất luôn, kiếm ai mà đòi. Giữ lại thì còn có người để đòi, mà người đó còn làm không công thêm một tháng. Bài toán đó, tôi mà ngồi ghế bà, tôi cũng giải y vậy.

Người đàn ông áo ba lỗ lên tiếng lần đầu:

– Má, thôi để con…

– Lộc, mày im! Vợ mày ôm tiền chạy ra ngõ, giờ mày mới mở miệng?

Vậy là chồng tôi tên Lộc. Anh im thiệt, im lẹ tới mức tôi nghĩ anh chỉ chờ có người biểu im. Nhưng trước khi quay vô nhà sau, anh nhìn tôi một cái, cái nhìn của người có câu gì lên tới cổ họng rồi nuốt xuống lại.

– Một tháng, bà Tư nói. Ba giờ sáng dậy vo bột. Bánh hư mày ăn, cơm nhà khỏi ăn. Bán thiếu một đồng tao trừ một đồng. Tới ngày mười bốn tháng tư mà hũ hông đầy lại thì mày đi.

– Dạ. Má cho con ghi lại mấy điều này.

– Ghi cái gì?

– Ghi giao kèo, má. Con ghi ra giấy, má lăn tay, con lăn tay, để sau này hai bên khỏi cãi.

Bà Tư nhìn tôi như nhìn người mới trốn ra từ nhà thương. Dưới nhà sau có tiếng cái thau nhôm rớt xuống nền đất, lăn mấy vòng rồi nằm im. Không ai ra lượm.

– Giao kèo cái con khỉ, bà Tư nói. Tao nói một lần, mày nhớ thì nhớ. Đi vo bột.

Tối đó tôi được cho ngủ trên cái chõng tre nhà sau, kế lu nước và ba thau bột đang ủ đậy vải mùng. Nói là ngủ cho sang, chớ thiệt ra tôi nằm đập muỗi. Muỗi ở đây to gấp đôi muỗi quận 7, cắn xong còn đứng lại nhìn mình. Cả buổi chiều tôi vo hư hai thau bột, làm bể một cái chén, và học được mấy chuyện: nhà có ba người, bà Tư, anh Lộc và tôi; anh Lộc ngủ nhà trên, tôi ngủ nhà sau, mà ngủ vậy lâu rồi nên không ai thấy lạ; con chó vàng tên Mực, dù nó màu vàng.

Tôi nhéo đùi mình một cái. Đau. Nhéo thêm cái nữa cho chắc, vẫn đau, còn bầm. Tôi nằm nghĩ tới cái văn phòng ở quận 7. Giờ này chắc cái laptop còn mở bảng quyết toán làm dở, ly cà phê sữa còn phân nửa, cái điện thoại còn sáng màn hình ba cuộc gọi nhỡ của má tôi. Cuộc nào tôi cũng để đó, tính mai gọi lại. Ba năm nay tôi tính mai gọi lại hoài.

Qua khe vách ván, nhà trên còn le lói đèn dầu. Tôi nghe tiếng lá chuối bị gỡ ra, rồi tiếng giấy sột soạt. Bà Tư đang đếm tiền. Bà đếm chậm, môi lẩm nhẩm, hết một lượt thì dừng, rồi đếm lại từ đầu. Dân kế toán nghe người khác đếm tiền là nghe ra được nhiều chuyện. Người đếm lần hai chậm hơn lần đầu là người đang mong mình đếm sai.

Đếm xong lần hai, bà ngồi im rất lâu. Rồi tôi nghe bà nói, nhỏ thôi, không biết là nói với ai:

– Còn có phân nửa…

Một hồi sau, bà nói thêm:

– Lụa ơi là Lụa.

Bà không kêu mày. Rồi ngọn đèn tắt, nhà trên tối om. Tôi nằm trong tối, tính lại từ đầu. Lúc ôm cái hũ ngoài ngõ, tôi thấy nó nặng. Giờ mới biết cái nặng đó chỉ là phân nửa. Phân nửa kia đã đi trước, trước cả buổi sáng nay, và người đem nó đi là cái thân xác tôi đang nằm đây. Con Lụa này không phải mới lấy lần đầu. Mà lấy tới hai lần thì chắc chắn ở đâu đó có một chỗ đang chờ số tiền này.

Tôi khát nước, mò dậy múc nước lu. Tay quờ trên cái kệ gỗ cạnh lu thì đụng một vật vuông vức, bìa vải nhám nhám. Tôi cầm lên, đưa ra chỗ ánh trăng lọt qua kẽ mái lá.

Là một cuốn sổ bìa vải xanh rêu, góc dưới có vết cháy hình miệng chén. Chiều nay ở quận 7, tôi đã ngồi chà ngón tay lên đúng vết cháy này, nghĩ không biết hồi xưa ai làm đổ cây đèn lên sổ. Có điều cuốn của tôi bìa đã bạc, gáy đã bung chỉ. Cuốn này bìa còn xanh mướt, vết cháy còn đen sì, dí mũi vô còn nghe mùi khét.

Tôi lật một mạch tới trang cuối. Trắng trơn. Lật ngược lên, dòng chữ sau cùng nằm ở khoảng trang thứ mười mấy, mực tím, ghi ngày mười ba tháng ba. Từ đó tới cuối sổ là mấy chục trang trắng. Ba mươi sáu năm nữa, trên trang cuối này sẽ có người viết hai chữ khóa sổ, bằng đúng nét chữ của tôi. Tôi ôm cuốn sổ về chõng, nhét xuống dưới chiếu, nằm đè lên nó tới sáng.