Chương 14
Ánh bình minh ngày mới lên lút qua rặng tre ngà, nhưng không mang theo chút ấm áp nào, chỉ nhuộm một màu xám xịt nhạt nhòa lên lớp sương muối đang bao phủ khắp sân phủ họ Trịnh. Ngôi từ đường cổ kính, vốn là biểu tượng uy quyền tồn tại suốt mấy trăm năm qua của dòng họ, giờ đây chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn, nghi ngút khói đen. Những cây cột lim khổng lồ bị cháy đen thui, đổ rạp chồng chéo lên nhau hệt như những chiếc xương sườn của một con quái thú khổng lồ bị thiêu rụi. Mùi tro tàn, mùi gỗ lim cháy dở quyện cùng hơi nước dập lửa tạo nên một bầu không khí u uất, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Trước đống tro tàn đổ nát ấy, hàng chục tộc lão và gia nhân của cả hai dòng họ Từ - Trịnh đã vây kín sân gạch từ sớm. Ai nấy đều bàng hoàng, gương mặt trắng bệch không thốt nên lời trước cảnh tượng gia bảo bị hủy hoại chỉ sau một đêm bão nổi.
Cụ cố Từ Thế Bình, người đứng đầu dòng họ Từ, đứng chống gậy trúc ở góc sân bái đường, đôi mắt mờ đục run rẩy nhìn những làn khói đen cuộn tròn bay lên trời cao.
Đúng lúc bầu không khí im lặng căng thẳng đang bao trùm lấy cả phủ thì tiếng bước chân dồn dập dẫm lên lá khô cùng tiếng xích sắt kéo lê trên gạch đá bất ngờ vang lên từ phía cổng ngách phía Tây.
Mọi ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía lối đi hẹp.
Trịnh Hạo Nhiên và Từ Minh Châu thong thả bước vào sân bái đường. Gương mặt hai người lấm lem tàn tro và bụi đất, y phục sũng nước mưa đêm bết chặt vào người, nhưng bước chân lại vô cùng dứt khoát. Hạo Nhiên một tay siết chặt khúc đòn tre dính bùn, tay kia thô bạo đẩy mạnh một bóng người gầy guộc đang bị xích chặt hai tay ra phía trước.
Đó chính là cụ cố vấn Nguyễn Văn Khoan.
Mái tóc bạc phơ của cụ cố vấn lúc này rối rũ rượi, bộ áo tơi lá rách nát vương đầy bùn đất của bến sông, nốt ruồi đen sát vành tai trái của ông ta co rút lại đầy thảm hại. Two gã gia nhân mặc áo đen của ông ta cũng bị đám thanh niên họ Trịnh trói chặt bằng dây thừng, thô bạo áp giải theo sau.
“Hạo Nhiên! Minh Châu! Hai đứa làm loạn cái gì thế này?!”
Một vị tộc lão họ Trịnh đứng bật dậy, giọng run rẩy đầy phẫn nộ chỉ vào cụ cố vấn đang bị trói nghiến:
“Nguyễn Văn Khoan là cụ cố vấn tối cao của hai họ, người bấy lâu nay đứng ra phân xử hòa giải đất đai công minh! Sao các người dám cả gan vô lễ, trói cụ cố áp giải về đây như một tên tội đồ?!”
“Ông ta không phải là người hòa giải.”
Giọng nói lạnh lùng, sắc lẹm của Từ Minh Châu vang lên cắt ngang tiếng la ó của đám đông. Cô bước lên một bước, đứng sừng sững giữa sân bái đường đầy khói lạnh, tà áo gấm màu nâu sẫm của cô bay nhẹ trước gió thu nhạt nhòa:
“Kẻ các người vẫn luôn tôn kính gọi là cụ cố vấn bấy lâu nay thực chất là một con quỷ dữ khát máu! Chính ông ta đã tự tay dìm chết mẹ tôi, Từ thị Hồng Vân, ở bến sông mười lăm năm trước để che đậy âm mưu tráo đổi địa đồ gốc, cướp đất của họ Từ! Và cũng chính ông ta đêm qua đã hạ độc sát hại đại thiếu gia Trịnh Khải Hùng, rồi phóng hỏa thiêu rụi ngôi từ đường này hòng tiêu hủy toàn bộ nhân chứng vật chứng!”
Cả sân đình bùng nổ trong tiếng la hét, hoảng loạn tột cùng! Các tộc lão họ Từ và họ Trịnh kinh ngạc nhìn nhau, không dám tin vào những gì tai mình vừa nghe thấy.
Cụ Khoan nằm rạp dưới nền đất ẩm ướt, ông ta ngẩng gương mặt già nua bết bùn lên, đôi mắt sáng quắc quỷ quyệt vằn tia máu nhìn Minh Châu, khẽ bật cười khùng khục đầy tàn nhẫn:
“Con ranh con nhà họ Từ… Cô tưởng chỉ bằng lời khai của một đứa hầu gái ranh mãnh và sự suy đoán điên rồ của cô mà có thể định tội ta sao? Cuốn sổ địa bạ gốc kia cô đã giật được ở bến sông, nhưng ranh giới đất đai thay đổi là do Trịnh Hữu Học ký nhận, Đào Văn Thản đóng dấu triện! Ta chỉ là một kẻ ngoại tộc đứng ra hòa giải ăn chút bổng lộc, lấy tư cách gì để giết người cướp đất?! Bằng chứng trực diện đâu mà cô dám đứng đây ngậm máu phun người?!”
“Bằng chứng đây!”
Trịnh lão gia Trịnh Hữu Học bước ra từ sau bức tường gạch đổ nát của thư phòng. Gương mặt vuông vức dạo trước đầy uy nghiêm của ông ta giờ đây hốc hác, xám xịt hệt như một người vừa trở về từ cõi chết. Ông ta chống cây gậy trắc dính máu bước đến sát cụ cố vấn, giọng đục ngầu, run rẩy đầy căm hận:
“Chính tai ta đêm qua đã nghe ngươi thừa nhận việc hạ sát em trai ruột của ta, Trịnh Khải Lâm, mười lăm năm trước trên bến sông vì chú ấy phát hiện tờ hương ước giả! Chính ngươi đã dâng mưu kế ép ta phải giam xích con trai trưởng của ta dưới mật đạo để dọn đường cho Hạo Nhiên bái đường thay hòng nuốt trọn dải đất bờ Tây! Nguyễn Văn Khoan, ngươi giật dây dòng họ ta suốt mười lăm năm qua, biến ta thành một tên sát nhân ngu muội, giờ ngươi còn muốn chối cãi nữa sao?!”
Sự xuất hiện và lời thú tội trực diện của Trịnh lão gia hệt như một tiếng sét đánh ngang tai hội đồng tộc lão hai họ.
Thế nhưng, cụ Khoan vẫn ngửa cổ cười lạnh, nụ cười khô khốc như quạ kêu ban đêm:
“Trịnh Hữu Học! Ông bị điên rồi! Ông tự tay giam xích con trai mình, tự tay ký giấy tráo đất, giờ từ đường bị cháy nên ông muốn đổ vấy toàn bộ tội ác lên đầu ta sao?! Triều đình trọng chứng hơn trọng cung! Các người có nói trăm lời, nghìn lời đi chăng nữa mà không có vật chứng trực diện chứng minh ta ra tay sát hại Dạ Tuyên và Khải Lâm mười lăm năm trước, thì quan huyện cũng sẽ xử các người tội vu khống quan viên, tru diệt dòng họ!”
Minh Châu nhìn chằm chằm gương mặt không chút sợ hãi của cụ cố vấn. Cô biết ông ta nói đúng. Một kẻ mưu mô xảo quyệt như Nguyễn Văn Khoan đã chuẩn bị đường lui suốt mười lăm năm qua. Tất cả giấy tờ đất đai đều có chữ ký của Trịnh lão gia và con dấu của quan huyện cũ Đào Văn Thản, bản thân ông ta tuyệt đối không để lại bất kỳ nét chữ trực tiếp nào liên quan đến các vụ án mạng. Những mảnh y bạch vương máu và chiếc nút ngọc sen tìm thấy dạo trước cũng chỉ là vật chứng gián tiếp, ông ta hoàn toàn có thể chối bay rằng đó là đồ bị mất cắp.
Phải có một bằng chứng trực diện không thể chối cãi. Một thứ vĩnh viễn vạch trần tội ác của ông ta trước bàn dân thiên hạ.
Đột nhiên, ánh mắt Minh Châu lướt qua đống tro tàn đổ nát của ngôi từ đường cũ.
Chiếc lư hương đồng khổng lồ chạm khắc hình lưỡng long chầu nguyệt dạo trước đặt trang nghiêm trên ban thờ chính điện, nay đã rơi rầm xuống đống gạch đổ nát. Vì bệ thờ bằng gỗ lim đã bị ngọn lửa đêm qua thiêu rụi hoàn toàn thành tàn tro, chiếc lư hương đồng khổng lồ đổ nghiêng sang một bên, lộ ra toàn bộ phần nền đất đá cổ kính bên dưới bệ thờ vốn bị che khuất suốt mười lăm năm qua.
Ký ức về sơ đồ thiết kế kiến trúc và lời dặn dò của mẹ năm cô bảy tuổi bất chợt dội về trong trí óc Minh Châu rõ mồn một hệt như một luồng ánh sáng chói lòa: “Muốn biết mẹ chết thế nào, hãy tìm dưới ban thờ nhà họ Trịnh.”
Và dạo trước dưới hầm ngầm, Khải Hùng cũng mấp máy: “Bức địa đồ thật giấu dưới lư hương…”
Không phải dưới hầm ngầm, mà là ngay dưới bệ đá đỡ chiếc lư hương đồng ở chính điện! Khi bệ thờ gỗ bị thiêu rụi, phần hốc đá bí mật bị chôn giấu sâu dưới lòng đất bát tràng nâng đỡ lư hương nay đã lộ diện hoàn toàn dưới lớp tro tàn nóng hổi!
“Hạo Nhiên, giúp tôi.”
Minh Châu khẽ gọi. Cô dứt khoát bước chân vào đống tro tàn còn nghi ngút khói nóng của từ đường. Hạo Nhiên không một câu hỏi han, anh lập tức bước sát bên cạnh cô, dùng vạt áo dài che chắn những tàn lửa còn bay lơ lửng xung quanh để bảo vệ cho cô dâu mới.
Hai người tiến lại gần chiếc lư hương đồng đổ nghiêng.
Nền đất đá bát tràng bên dưới bệ đỡ lư hương đã bị sức nóng của ngọn lửa nung đến nứt nẻ, để lộ ra một khoảng rỗng hình vuông nhỏ sâu khoảng một gang tay dưới lòng đất. Minh Châu quỳ xuống lớp tro nóng hổi, cô gạt phăng lớp than củi đen đúa sang bên cạnh.
Một chiếc hộp sắt nhỏ, xám xịt và hoen gỉ, nằm im lìm dưới hốc đá lộ ra trước mắt cô. Chiếc hộp sắt này nhờ được chôn sâu dưới lớp gạch đá bát tràng dầy cộp và bọc trong vải dầu chống nước nên hoàn toàn nguyên vẹn, không hề bị ngọn lửa thiêu rụi.
On nắp chiếc hộp sắt có một ổ khóa đồng cổ nhỏ xíu, trên thân khóa khắc nổi một hình đóa sen ba lớp đã đen xỉn theo năm tháng.
Minh Châu run rẩy đưa bàn tay lấm lem tro bụi vào ngực áo, rút chiếc chìa khóa đồng có răng cưa mà mẹ cô, Từ thị Hồng Vân, để lại dạo trước đưa dâu.
Cô tra chìa khóa vào ổ khóa đồng cổ trên chiếc hộp sắt.
Cạch!
Tiếng lẫy khóa bật mở thanh thoát vang lên giữa không gian đổ nát hoang tàn của từ đường. Minh Châu nén thở, từ từ mở nắp hộp sắt rỉ sét ra ngoài ánh sáng buổi rạng đông.
Bên trong chiếc hộp sắt là một bức thư bằng giấy bản dày dặn được cuộn tròn tỉ mỉ, bên ngoài buộc bằng một sợi chỉ đỏ đã phai màu. Trải qua mười lăm năm chôn vùi dưới lư hương lạnh ngắt khói hương, bức thư vẫn còn nguyên vẹn từng thớ giấy, từng nét mực.
Nét chữ nghiêng u uất, thanh mảnh quen thuộc của mẹ cô hiện lên rõ ràng ngay trang đầu tiên:
“Ta là Từ thị Hồng Vân (Dạ Tuyên), viết bức mật thư này vào đêm mười bốn tháng bảy năm Canh Tuất, khi biết mạng sống của mình chỉ còn tính bằng từng khắc…”
Minh Châu siết chặt bức thư trong lòng bàn tay, nước mắt cô chực trào ra nhưng đã bị cô kiên quyết nén ngược vào trong. Cô dứt khoát bước ra ngoài đống tro tàn đổ nát, đứng trước toàn thể tộc lão hai họ Từ - Trịnh và dân làng Ba Bụi. Cô giơ cao bức mật thư lên, dõng dạc đọc lớn từng từ, từng chữ bằng một giọng nói đanh thép, vang vọng khắp khoảng sân rộng đẫm hơi sương:
“… Đêm nay trời bão lớn, ta lén sang phủ họ Trịnh tìm kiếm cuốn sổ địa bạ gốc triều Minh Mạng bị mất tích. Tại bến sông Ba Bụi, chính mắt ta đã nhìn thấy cụ cố vấn Nguyễn Văn Khoan và tri huyện Đào Văn Thản ép buộc chú Trịnh Khải Lâm phải ký tên làm chứng vào bản hương ước giả cướp đất họ Từ. Khi chú Khải Lâm kiên quyết cự tuyệt, Nguyễn Văn Khoan đã tự tay dùng đoản đao đâm chết chú ấy ngay trước mặt ta, rồi ra lệnh cho gia nhân ném xác chú Lâm xuống bến sông dìm sâu.”
Mỗi từ đọc lên hệt như một nhát búa giáng thẳng vào sự im lặng đáng sợ của đám đông. Gương mặt cụ Khoan dưới đất bắt đầu biến đổi từ lạnh lùng sang trắng bệch, run rẩy đầy hoảng loạn.
Minh Châu đọc tiếp, giọng cô run lên nhưng đầy uy lực quyết định:
“… Ta trong cơn hoảng loạn đã lén nhặt được mảnh y bạch vạt áo rách dính máu của chú Lâm cùng chiếc nút áo khảm ngọc hoa sen của Nguyễn Văn Khoan rơi lại ở bến sông dạo ấy để làm vật chứng. Nhưng Nguyễn Văn Khoan đã phát hiện ra sự hiện diện của ta. Hắn đang cho tay chân lùng sục khắp nội viện để bịt đầu mối. Ta biết mình không thể sống sót qua đêm nay nên lén giấu mảnh y bạch và chiếc nút ngọc sen trong căn phòng cấm phía Tây, còn bức mật thư vạch tội này ta giấu dưới lòng chiếc lư hương đồng chính điện từ đường, hy vọng con gái Minh Châu của ta sau này lớn lên sẽ tìm thấy để đòi lại công lý.”
Ở cuối bức mật thư, có hai dấu triện đỏ tươi đè lên nhau: Một là con dấu cá nhân viết bằng chữ Nho của người chú mất tích Trịnh Khải Lâm, chứng minh chú ấy đã đóng dấu xác nhận sự việc trước khi bị sát hại; và dấu triện còn lại chính là dấu vân tay bằng máu đỏ thẫm của mẹ cô, Từ thị Hồng Vân, thề trước ban thờ tổ tiên dòng họ.
“Nguyễn Văn Khoan!”
Cụ cố Từ Thế Bình đứng bật dậy, chiếc gậy trúc trong tay ông cụ giáng mạnh xuống gạch đá phát ra tiếng động rầm rầm đầy phẫn nộ, nước mắt già nua chảy dài trên những nếp nhăn xô lệch:
“Con dấu của chú Khải Lâm và huyết thề của Dạ Tuyên đã hiển hiện rành rành ở đây! Ông còn muốn chối cãi thế nào trước vong linh của những người đã khuất mười lăm năm qua nữa không?!”
Đám đông tộc lão và dân làng Ba Bụi bùng nổ trong cơn giận dữ tột cùng! Hàng chục thanh niên hai họ Từ - Trịnh phẫn nộ lao tới, bao vây chặt lấy cụ cố vấn Nguyễn Văn Khoan cùng toán tay chân áo đen của ông ta.
Cụ Khoan đổ gục xuống đất như một khúc gỗ mục rữa. Nụ cười tàn nhẫn bấy lâu nay biến mất hoàn toàn trên gương mặt ông ta, thay vào đó là một vẻ sợ hãi, bàng hoàng tột độ khi nhận ra ván cờ mạng sống kéo dài mười lăm năm của mình rốt cuộc đã bị thiêu rụi hoàn toàn dưới đống tro tàn của từ đường. Ông ta há hốc miệng nhưng không thể thốt ra nổi một lời chối cãi nào trước bức mật thư bằng máu của người chết.
Trịnh Hạo Nhiên dứt khoát bước lên, anh gạt phăng những tàn tro cuối cùng bám quanh chiếc rương gỗ chứa địa bạ gốc, rồi quay sang nhìn Trịnh lão gia Trịnh Hữu Học đang đứng cúi đầu hổ thẹn dâng lời:
“Cha, ván cờ này kết thúc rồi. Hãy sai gia nhân trói chặt Nguyễn Văn Khoan cùng hai gã sát thủ kia lại, lập tiếp giải lên huyện đường trình diện tri huyện mới để phân định dứt điểm bản án mạng mười lăm năm trước.”
Trịnh Hữu Học khẽ gật đầu đồng ý, hai hàng nước mắt hối hận muộn màng lăn dài trên gương mặt khắc khổ của ông ta.
Bình minh đã lên rõ trên làng Ba Bụi, xua tan hoàn toàn làn sương mù muối lạnh buốt của đêm bão nổi.
Minh Châu đứng lặng người giữa khoảng sân rộng đẫm hơi sớm, hai tay cô ôm chặt lấy bức mật thư của mẹ và cuốn sổ địa bạ gốc triều Minh Mạng giấu sát ngực áo gấm rộng. Gió sớm từ bến sông tạt qua người cô, mát lạnh và trong trẻo hệt như một luồng sinh khí mới đang hồi sinh dòng máu họ Từ bấy lâu nay bị áp chế. Mối thù máu mười lăm năm qua của mẹ cô rốt cuộc đã được phơi bày trọn vẹn ra ánh sáng công lý.
Hạo Nhiên chậm rãi bước lại gần bên cạnh cô. Vết thương dính máu trên bắp tay anh đã được A Sương dùng chiếc khăn tay hoa mộc bọc tạm lại, gương mặt anh vẫn lạnh lùng, điềm tĩnh hệt như một pho tượng đá, nhưng đôi mắt sâu thẳm nhìn cô dâu mới đã vơi bớt đi vài phần u uất dạo trước.
“Tôi đã bảo cô dâu mới không nên nhúng tay vào quá khứ.” Giọng anh trầm xuống đầy nhẹ nhàng. “Nhưng nếu không có sự cứng đầu của cô đêm nay, nợ máu mười lăm năm qua của gia tộc tôi có lẽ sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi dưới đống tro tàn này.”
Minh Châu quay đầu đối diện trực diện với ánh mắt anh, khóe môi cô khẽ nhếch lên một tia cười nhạt nhòa:
“Anh gánh tội phản nghịch thay tôi trước từ đường, tôi cứu mạng anh trai anh dưới hầm tối. Tôi và anh… ván cờ hôn ước này coi như huề nhau dứt điểm.”
Mưa đã ngớt hoàn toàn đầu non, để lại một khoảng trời thu xanh trong vắt rạng rỡ phía sau những đám mây xám xịt. Cuộc hôn ước gượng ép đầy máu và nước mắt của hai nhà Từ - Trịnh giờ đây không còn là một chiếc thòng lọng siết cổ họ dọn đường cho tội ác, mà đã biến thành một sự khởi đầu mới để cùng nhau bảo vệ bình yên cho cả hai dòng họ trước những giông bão cuộc đời phía trước.
Đọc Truyện Cùng Su