Đọc Truyện Cùng Su
← Gánh Xôi Mẹ Tôi

Chương 2

5 giờ sáng mùng 5 Tết, tôi phát hiện ra một chuyện động trời: cơ thể 17 tuổi không biết mệt là gì.

Tối qua tôi trằn trọc mãi mới ngủ được, trong đầu toàn con số 600. Vậy mà tiếng gà gáy vừa vang lên, tôi đã bật dậy như lò xo, đầu óc tỉnh táo, chân tay nhẹ bẫng. Ở kiếp trước, mỗi sáng tôi phải ngồi xoa đầu gối một lúc mới đứng lên nổi. Còn bây giờ, tôi nhảy phắt xuống ván, suýt nữa thì huýt sáo.

Tôi đưa tay lên bịt miệng mình. Từ nay phải bỏ cái tật lẩm bẩm một mình này. Má mà nghe được, mai má đi coi thầy thiệt.

Anh Hai đã dậy từ lúc nào, đang ngồi ăn cơm nguội với cá khô ở chái bếp. Thấy tôi lò dò ra, anh suýt sặc.

- Em dậy thiệt hả?

Tôi vơ cái nón lá trên vách đội lên đầu:

- Anh tưởng em nói chơi? Đi.

Đường ra bến đò còn tối mờ mờ. Sương giăng trắng cả ruộng, hơi lạnh thấm qua áo bà ba. Tôi đi sau anh Hai, nghe tiếng dép của 2 anh em quệt trên đường đất. Lâu lắm rồi tôi không đi bộ đường đất buổi sáng. Ở thành phố, sáng nào tôi cũng kẹt xe, hít khói bụi, vừa đi vừa lướt điện thoại. Còn bây giờ, sương mát rượi cả mặt. Anh Hai đi trước, cái giỏ đệm đung đưa trên tay. Thỉnh thoảng anh quay lại nhìn tôi, chắc sợ tôi đổi ý bỏ về giữa đường. Tôi vẫy tay bảo anh đi tiếp. Nhìn con đò ngang đang nổ máy chờ khách, lòng tôi thắt lại. Sáng nay nó hiền lành vậy thôi.

Bến đò lúc 5 giờ sáng đã ồn ào. Mấy chiếc ghe hàng neo san sát, đò máy nổ phành phạch, mùi dầu máy quyện với mùi sông ngai ngái.

Anh Hai mua 2 vé đò. Tôi bước xuống đò ngang, chân run lẩy bẩy dù mặt sông phẳng lặng như gương. Chú Năm lái đò, người đàn ông da đen nhẻm với hàm răng vàng khè vì thuốc lào, cười với tôi:

- Con gái bà Lành hả? Lần đầu đi đò sớm vậy con?

Tôi bám chặt vào thành đò:

- Dạ.

Anh Hai hỏi nhỏ:

- Sợ nước hả?

- Sợ lắm.

Chú Năm cười ha hả, cho đò rẽ sóng:

- Đò chú lái 20 năm rồi, chưa lật bao giờ đâu con. Yên tâm.

Tôi nhìn bàn tay chai sần của chú Năm trên cần lái, rồi nhìn sang anh Hai. Hai mươi năm cầm lái. Tôi muốn tin lời chú, nhưng vẫn không dám buông tay khỏi thành đò.

Qua tới bến bên kia, mấy người đàn ông vai u thịt bắp đang hò nhau khiêng bao lúa lên vựa. Anh Hai xắn tay áo, nhập bọn ngay.

Tôi cũng xông vào, nắm lấy một góc bao lúa. Bao lúa nặng như cục đá, lôi tôi chúi nhủi về phía trước. Anh Hai vội đỡ lấy bao, mặt tái đi. Anh quát khẽ:

- Em ngồi yên đó! Đụng vô bể bao thì đền tiền đó!

Ông chủ vựa, người đàn ông bụng phệ mặc áo thun ba lỗ, cười ha hả:

- Thằng Hai dẫn em gái đi làm hả? Em gái mày nhìn bảnh tỏn mà yếu như sên vậy?

Mấy người phu cười ồ lên. Tôi đỏ mặt, lủi vào ngồi trên một bao lúa lép, không dám hó hé nữa.

Ngồi không cũng chán, tôi nhìn quanh. Một bác phu lớn tuổi cầm cây sào tre chọc xuống mép nước, nheo mắt nhìn dòng chảy rồi nói với anh Hai:

- Nước tháng này còn hiền. Tới tháng 9 nước lên, chảy xiết lắm, ghe nào chở nặng là nó nuốt.

Bác vạch một đường ngang trên mặt nước bằng đầu sào. Anh Hai gật gù nghe. Tôi rùng mình. Tháng chín. Bác ấy nói nhẹ tênh như chuyện thời tiết, mà với tôi, hai chữ đó nặng như đá tảng. Tôi lén nhìn anh Hai. Anh đang thử cầm cây sào, chọc xuống nước theo cách bác phu chỉ, mặt đầy vẻ thích thú. Anh học cách đọc sông. Còn tôi, tôi chỉ mong anh đừng bao giờ phải dùng đến nó.

Tôi ngồi đó, nhìn anh Hai làm việc. Anh vác từng bao lúa lên vai, bước thoăn thoắt trên tấm ván bắc từ ghe lên bến. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, nhưng mặt anh rạng rỡ. Một buổi kha khá tiền công đang chờ anh cuối buổi.

Rồi mắt tôi dời ra mặt sông. Tháng 2, nước sông còn thấp, hiền như con mèo ngủ. Sóng lăn tăn vỗ vào mạn ghe. Đò ngang chạy đều đều, chở người qua lại thong thả.

Tôi rùng mình. Cũng con sông này, 19 tháng nữa, nó sẽ nuốt anh Hai của tôi.

Anh Hai từ đâu chìa ra nửa ổ bánh mì thịt còn nóng hổi, mua ở quán đầu bến:

- Nè. Ăn đi, nhìn mặt em xanh lè.

Tôi cắn một miếng. Bánh mì giòn, thịt khìa thơm phức. Ngon hơn hẳn ổ bánh mì tôi hay mua ở thành phố.

Tôi nói, miệng còn nhai:

- Anh Hai. Ngày nào anh cũng ra sông như vầy hả?

Anh lau mồ hôi:

- Ừ. Có việc thì đi, không thì ở nhà phụ má. Sao?

Tôi nhìn dòng sông, rồi nhìn đôi tay chai sần của anh:

- Không sao. Em chỉ hỏi vậy thôi.

Trong đầu tôi, con số 600 lại hiện lên. 600 ngày. Tôi không thể ngày nào cũng theo anh ra bến như vầy. Sáng nay tôi còn ngồi chơi được, mai mốt má bắt ở nhà phụ gánh xôi thì sao? Mà cho dù tôi có theo được, tôi cũng không thể đứng chắn trước mặt anh mỗi lần anh xuống ghe. Cách này không bền.

Tôi phải tìm cách khác. Cách gì đó để anh không còn phải ra sông nữa.

Ý nghĩ đó vừa lóe lên, tôi đã thấy nó to lớn quá sức mình. Tôi đang ở trong thân con gái 17 tuổi, trong túi không có một đồng. Mấy chục năm dạy học đâu có giúp tôi biết ngay cách kiếm đủ tiền nuôi cả nhà. Lấy gì mà đổi được hoàn cảnh?

Nhưng rồi tôi nhìn anh Hai đang cười nói với mấy người phu, nhìn nửa ổ bánh mì trên tay mình, và nghĩ: thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Hôm nay giữ được hôm nay đã.

Trưa về tới nhà, má đang ngồi ngâm nếp, mặt nặng như chì. Má không ngẩng lên:

- Mày theo anh mày thì ai phụ má? Nếp này ai vo? Đậu này ai đãi? Lá chuối này ai lau?

Tôi líu ríu ngồi xuống bên má. Thau nếp ngâm từ tối qua đã nở trắng, hạt nào hạt nấy căng mọng. Tay tôi thọc vào thau, vo vo. Lạ thiệt, tay tôi nhớ việc trước cả đầu tôi. Ngón tay tự biết vò nhẹ cho nếp sạch mà không nát, tự biết gạn nước đúng cách. Bao nhiêu năm rồi mà đôi tay này vẫn nhớ.

Má liếc tôi, giọng dịu đi một chút:

- Ủa, tay con còn nhớ nghề hả?

- Nhớ chớ. Hồi nhỏ con phụ má hoài mà.

Đó là sự thật một nửa. Hồi nhỏ tôi có phụ má thiệt, nhưng sau này lên thành phố, tôi quên sạch. Còn bây giờ, đôi tay 17 tuổi này vẫn còn nguyên trí nhớ của nó.

Tôi phụ má đãi đậu xanh. Đậu đãi sạch vỏ, vàng ươm. Má trộn nếp với đậu, rắc chút muối, rồi đổ vào xửng. Má vừa làm vừa dặn:

- Đồ lần 1 chín tới thôi, xới ra rưới nước cốt dừa rồi đồ lần 2 mới dẻo. Nếp mà đồ 1 lần là sượng, khách ăn 1 lần rồi thôi.

Tôi ngồi trông bếp lửa, ghi nhớ từng chữ má nói. Mùi nếp chín quyện mùi củi cháy thơm nức cả gian bếp. Khói bếp cay xè mắt, má vừa quạt vừa ho khan mấy tiếng. Tôi nhìn má, lòng chùng xuống. Cái ho này, kiếp trước tôi đã nghe nó theo má mấy chục năm trời.

Nhìn đôi tay chai sần của má thoăn thoắt, tôi chợt nhớ đến đôi tay cũng chai sần ấy mấy chục năm sau, run run không cầm nổi đũa. Tôi quay đi, giả vờ khều bếp lửa.

Lúc đó có bà Hai Gái ghé mua xôi. Bà là khách quen, tuần nào cũng mua mấy gói cho cả nhà ăn sáng. Vừa trả tiền, bà vừa buột miệng:

- Tới rằm đám giỗ má tao, mày gói cho tao 50 gói nghen Lành. Nhà đông, nấu không xuể.

Má cười:

- Được, bà cứ báo trước một bữa là có.

Tai tôi dựng đứng lên. 50 gói. Một đơn hàng. Tôi ghi nhớ chuyện này vào đầu.

Vừa làm, tôi vừa để ý. Má gói xôi bằng lá chuối, buộc lạt tre. Khách mua về ăn sáng, tới trưa là xôi nguội ngắt, lá héo. Mấy bà khách quen hay than xôi nguội nhanh quá. Tôi ghi nhớ điều đó nữa, chưa nói ra. Trong đầu tôi đã le lói một ý, nhưng còn mờ lắm. Để mai tính.

Tôi nói, tay vẫn không ngừng lau lá:

- Chiều nào con cũng phụ má. Sáng con mới theo anh Hai.

Má thở dài:

- Ừ. Mày lớn rồi, má nói không lại mày.

Ăn cơm trưa xong, tôi chui vào buồng, lôi cuốn sổ dưới chiếu ra. Tôi phải ghi thêm những gì mình nhớ được, kẻo để lâu quên mất.

Tôi nhắm mắt, vắt óc. Kiếp trước, ai đã thuê anh Hai chuyến đò đó? Tôi cố hình dung đám ma anh: khói hương nghi ngút, tiếng má khóc, người ra người vào đông nghẹt. Trong đám đông đó, có người chủ ghe không? Tôi không nhớ nổi. Mặt mũi ai tôi cũng quên, chỉ nhớ khói và tiếng khóc.

Tôi mở mắt, viết:

“chủ ghe - ? tiền công - ? học phí - năm 2?”

3 dấu hỏi nằm chình ình trên giấy, như 3 cái lỗ thủng trong trí nhớ của tôi. Tôi biết anh c.h.ết vì tiền học của mình, nhưng chi tiết thì mù tịt. Có lẽ đó là cái giá của việc sống quá lâu: chuyện lớn thì nhớ, chuyện nhỏ rơi rụng hết.

Tôi giở chiếu lên, nhét cuốn sổ vào sâu bên dưới, vuốt cho phẳng. Ra giếng sau nhà rửa mặt, nước giếng mát lạnh, tôi vã lên mặt mấy cái cho tỉnh táo.

Khi tôi quay vào, anh Hai đang ngồi trên ván ngựa, cuốn sổ nằm gọn trong tay anh.

Tim tôi rớt xuống đất. Đầu óc tôi quay cuồng. Nếu anh hiểu được thì sao? Nếu anh đem khoe với má thì sao? Má sẽ nghĩ tôi bị ma nhập thiệt, rồi cả xóm sẽ biết. Tôi cần họ tin tôi, chứ không phải sợ tôi.

Anh Hai giơ cuốn sổ lên, nhíu mày:

- Em ghi cái gì vậy? Mật mã hả? “1995 - mùa nước nổi - đò”? “17 tháng 9”? “600”? “giữ”?

Tôi đứng sững ở cửa. Trong đầu quay cuồng tìm lý do. Nói thật thì không được. Nói dối thì phải nhanh.

Tôi giật lấy cuốn sổ, ôm vào ngực:

- Sổ… sổ tính tiền! Em tính tiền phụ má! Tiền nếp, tiền đậu…

Anh Hai nheo mắt nhìn tôi:

- Tính tiền gì mà “1995”? Năm tới má mày định bán xôi cho người tương lai hả?

Tôi cứng họng. Lý do của tôi dở tệ, chính tôi cũng biết.

Anh Hai nhìn tôi một lúc lâu, cái nhìn của người đang cố hiểu một điều không hiểu nổi. Rồi anh đứng dậy, vỗ nhẹ lên đầu tôi như hồi tôi còn nhỏ. Anh nói khẽ:

- Em dạo này lạ lắm, Hà. Có chuyện gì thì nói với anh, đừng giấu.

Anh bỏ ra ngoài. Tôi ngồi phịch xuống ván, cuốn sổ vẫn ôm chặt trong tay.

Đêm đó, tôi nhét cuốn sổ sâu hơn nữa dưới chiếu. Nhưng có một thứ tôi không nhét đi đâu được: ánh mắt của anh Hai lúc nãy.