Chương 2
Mấy hôm sau đám tang, Diễm gặp ông Sáu ở hiên nhà ông, khi cô đang trên đường ra nhà ngoại dọn dẹp.
Buổi sáng trong xóm còn se lạnh. Sương mỏng giăng trên mặt vàm chưa tan hết. Diễm xách giỏ tre đựng giẻ lau và chổi, đi ngang qua nhà ông Sáu thì nghe tiếng đờn kìm nỉ non vọng ra từ hiên. Điệu đờn buồn buồn, Diễm nghe quen mà không nhớ tên bài. Hồi nhỏ cô hay theo ngoại đi xem đờn ca tài tử ở đình làng, ông Sáu là tay đờn chính, cả xóm ai cũng khen. Ông Sáu ngồi trên chiếc ghế tre cũ, cây đờn đặt ngang đùi, ngón tay gầy guộc lần mò trên dây. Mắt ông đục ngầu, nhìn đâu cũng như không nhìn. Thấy bóng người lướt qua, ông ngừng tay, nghiêng đầu lắng nghe.
- Ai đó?
- Dạ con, Diễm nè cậu Sáu.
- À, con gái con Lệ. Ông Sáu cười, hàm răng đã rụng gần hết. Đi đâu sớm vậy con?
- Dạ con ra nhà ngoại dọn dẹp. Má con biểu dọn buồng ngoại cho sạch sẽ.
Ông Sáu gật gù, đặt cây đờn xuống bên cạnh. Ông im lặng một lúc lâu, lâu tới mức Diễm tưởng ông quên mất cô còn đứng đó. Gió sớm thổi qua hiên, làm mấy tàu lá chuối sau nhà xào xạc. Rồi ông bỗng hạ giọng, nghiêm lại hẳn:
- Diễm nè. Ngoại con mất rồi, tới lượt con đó. Cậu dặn con một chuyện, con nhớ kỹ nghen. Từ giờ tới rằm tháng bảy, con đừng mặc áo đỏ.
Diễm khựng lại.
- Sao vậy cậu? Tới lượt con… là sao?
Ông Sáu không trả lời câu sau. Ông quay mặt về phía vàm, đôi mắt đục nhìn xa xăm:
- Hồi cậu còn nhỏ xíu, cha cậu kể, có một đêm ổng đi soi ếch ngoài vàm, thấy bóng áo đỏ chạy ngang qua, tóc tai rũ rượi. Sáng ra, trong xóm có nhà mất tích không thấy về.
Ông ngừng một chút, giọng trầm xuống:
- Từ đó cậu tin, áo đỏ dễ hợp vía với người c.h.ết oan. Con là con gái, lại đang tuổi này… thôi, nghe lời cậu, đừng mặc.
Sống lưng Diễm lạnh toát. Cô cố cười cho đỡ sợ:
- Dạ, con nhớ rồi. Mà nhà con có mấy cái áo đỏ đâu cậu.
Cô ngập ngừng một lúc rồi đánh bạo hỏi thêm. Lời ngoại dặn “đừng nói với ai” còn văng vẳng bên tai, nhưng cậu Sáu mù, cậu có thấy gì đâu mà kể với cậu.
- Cậu Sáu, cậu có nghe chuyện người áo đỏ ngoài vàm không? Kiểu… người ta thấy đó cậu.
Ông Sáu giật mình rất khẽ, nhưng Diễm nhìn thấy. Ông quay mặt về phía cô, đôi mắt đục nhìn thẳng mà như xuyên qua cô:
- Con thấy hả?
- Dạ không! Diễm vội lắc đầu, tim đập thình thịch. Con nghe người ta nói thôi.
Ông Sáu thở ra một hơi dài, không biết là nhẹ nhõm hay thất vọng.
- Thấy thì đừng nói. Mà tốt nhất là đừng thấy.
Diễm gật đầu, cổ họng khô khốc. Cô muốn hỏi thêm nhưng nhìn vẻ mặt ông, cô biết có hỏi cũng không moi được gì thêm.
Ông nhặt cây đờn lên, ngón tay lại lần mò trên dây, như thể câu chuyện đã xong. Rồi ông nói thêm một câu rất khẽ, không biết là nói với cô hay nói với chính mình:
- Tội nghiệp con.
Diễm đứng tần ngần một lúc rồi chào ông đi tiếp. Tiếng đờn kìm lại nỉ non sau lưng cô, đuổi theo một quãng rồi mất hút sau rặng dừa nước. Suốt quãng đường ra nhà ngoại, ba chữ “tội nghiệp con” cứ lởn vởn trong đầu cô không chịu đi. Ông già mê tín thôi, cô tự nhủ. Nhưng sao trong bụng cô cứ bồn chồn không yên. Cô chợt nhận ra cậu Sáu cũng giống má: hỏi tới thì lảng, dặn dò thì úp mở. Cả làng này hình như đều biết một chuyện mà chỉ mình cô không biết.
Nhà ngoại vắng hoe sau đám tang. Bàn thờ còn vương khói nhang, di ảnh ngoại cười hiền nhìn cô từ trên cao. Diễm đặt giỏ xuống, xắn tay áo bắt đầu dọn: quét nhà, lau bàn thờ, thay nước lọ hoa đã héo. Làm xong ngoài nhà, cô bước vào buồng ngoại.
Buồng nhỏ, chỉ kê vừa chiếc giường tre và cái tủ gỗ cũ. Chăn màn ngoại xếp gọn ở đầu giường, còn thơm mùi nắng. Hồi nhỏ Diễm hay qua ngủ lại với ngoại, hai bà cháu nằm kể chuyện tới khuya. Giờ căn buồng trống trơn, lạnh lẽo lạ thường. Cô mở tủ gỗ, bên trong còn mấy bộ bà ba cũ của ngoại xếp ngay ngắn, và một gói kẹo đậu phộng đã ỉu. Ngoại hay để kẹo trong tủ cho hai chị em, mỗi lần qua là Mơ lại lục tủ trước tiên. Diễm cầm gói kẹo lên, lòng se lại, rồi đặt xuống, tiếp tục quét dọn.
Diễm ôm chăn ra sân phơi, quay vào quét mạng nhện gầm giường thì tay cô chạm phải vật gì cứng cứng.
Cô cúi xuống nhìn. Dưới gầm giường, trong góc tối đầy bụi, là một chiếc hòm gỗ mít. Then đồng đã xỉn màu nhưng không khóa.
Tim Diễm đập nhanh hơn một nhịp. Chiếc hòm nặng hơn cô tưởng, cô phải nghiến răng mới kéo ra được, để lại một vệt dài trên nền đất đầy bụi. Hòm của ngoại mà cô chưa từng thấy bao giờ. Cô ngồi bệt xuống nền đất, mở then. Nắp hòm kêu cọt kẹt, một mùi long não và gỗ cũ xộc lên.
Trong hòm, gấp gọn gàng phẳng phiu, là một chiếc áo bà ba đỏ đã cũ. Vải sờn ở cổ tay và gấu áo, nhưng vẫn còn thoang thoảng mùi long não. Đặt ngay ngắn trên chiếc áo là một cuốn sổ tay bìa vải đã ngả màu chè.
Diễm cầm cuốn sổ lên, tay hơi run. Trang đầu, nét chữ nắn nót quen thuộc của ngoại:
“Đời thứ nhất: má tôi, Hai Sen, làm lễ năm Bính Ngọ.”
“Đời thứ hai: tôi, Trần Thị Lựu, làm lễ năm Bính Dần.”
Cô sững người. Sống với ngoại mười tám năm, đây là lần đầu tiên cô biết tên đầy đủ của ngoại. Hóa ra ngoại tên Lựu.
“Đời thứ ba: con gái tôi, Ba Lệ, tới kỳ thì bỏ đi.”
Diễm đọc tới đây thì tay cô khựng lại. Đời thứ ba… là má cô? Bỏ đi? Bỏ đi đâu? Sao má chưa bao giờ kể với cô chuyện này? Lễ gì mà phải ghi thành đời như vậy? Bính Ngọ, Bính Dần là năm nào? Cô nhẩm tính một lúc: Bính Ngọ chắc là năm 1966, tức là sáu mươi năm trước. Lâu vậy sao?
Cô lật tiếp. Một dòng chữ mới hơn, nét chữ không còn nắn nót mà run run, xiêu vẹo, như viết lúc tay đã yếu lắm rồi:
“Đời thứ tư: cháu ngoại tôi, con Diễm.”
Không ghi năm. Dòng chữ bỏ lửng ở đó, như người viết chưa kịp viết tiếp, hoặc không biết phải viết gì tiếp. Tim Diễm như ngừng đập một nhịp. Ngoại viết tên cô vào đây từ khi nào? Lúc cô vừa tròn mười tám? Hay từ khi cô mới sinh ra?
Diễm nuốt nước bọt, lật vội sang trang cuối. Cũng nét chữ run run đó, chỉ vỏn vẹn ba câu:
“Cọc trói được hồn chứ không trói được oán. Muốn hết, phải nói thật trước cả họ. Đừng bắt con cháu gánh tiếp.”
Cô đọc đi đọc lại ba câu đó mấy lần. Ngoại muốn chấm dứt một chuyện che giấu, cô hiểu được tới đó. Nhưng che giấu chuyện gì? Hồn nào, oán nào? Cọc nào? Và tại sao chuyện đó lại liên quan tới cô, tới mức tên cô đã nằm sẵn trong sổ?
Cô đặt cuốn sổ xuống đùi, cầm chiếc áo đỏ lên. Vải mềm và nhẹ. Cô giơ lên trước mặt ngắm nghía: áo bà ba đỏ, cổ tròn, khuy vải đã sờn. Cô ướm thử lên người, vừa in như may cho cô vậy. Ai đã mặc chiếc áo này? Sao ngoại cất kỹ như vậy? Sống lưng cô lại lạnh toát. Lời dặn của cậu Sáu sáng nay bỗng vang lên rõ mồn một trong đầu: đừng mặc áo đỏ.
Diễm rùng mình, vội gấp chiếc áo lại cẩn thận như cũ, đặt vào hòm. Cô không dám mang nó về, dù chỉ để trong tủ. Lời cậu Sáu còn văng vẳng bên tai, cô không dại gì mà trái. Cô chỉ lấy cuốn sổ, nhét sâu vào đáy túi xách.
Diễm nhìn quanh buồng một lần nữa, đẩy hòm gỗ vào lại gầm giường, đúng chỗ cũ, phủi bụi trên tay, cố làm mọi thứ y như chưa từng động vào. Dọn dẹp nốt cho xong, cô ra về. Suốt đường về, chiếc túi xách đeo bên hông nặng trĩu một cách lạ lùng, dù trong đó chỉ có thêm một cuốn sổ mỏng. Cô cứ nghĩ mãi về câu má gắt lên ở đám tang: “Tới đó rồi con biết.” Má biết chuyện cuốn sổ này không? Má có biết tên cô đã nằm trong đó không? Và “đời thứ ba bỏ đi” nghĩa là sao?
Về tới nhà, má cô đang lúi húi dưới bếp. Diễm đứng ở cửa bếp một lúc, tay nắm quai túi xách chặt cứng, định mở miệng hỏi, rồi lại thôi. Hỏi bây giờ, má lại gắt như ở đám tang, rồi giấu nhẹm đi, cô chẳng moi được gì. Mà nếu má không biết chuyện cuốn sổ thì sao? Không, má là con gái ngoại, ngày nào cũng qua lại, không thể không biết. Cô cần tự tìm hiểu trước, nắm được chút gì trong tay rồi hẵng hỏi.
Cô về phòng, giấu cuốn sổ dưới đáy tủ quần áo, phủ mấy bộ đồ lên trên. Xong xuôi, cô ngồi thừ ra một lúc, trong đầu quay cuồng những câu hỏi không lời đáp. Mai cô sẽ hỏi ai? Cậu Sáu thì úp mở, má thì gắt. Còn anh Thức? Anh hiền, nhưng chuyện này có liên quan gì tới anh đâu mà hỏi. Cô thở dài, quyết định trước mắt cứ giữ cuốn sổ đã, từ từ tính.
Tối đó, Diễm nằm trên giường, mở cuốn sổ ra đọc lại dưới ánh đèn ngủ. Danh sách các đời. Dòng tên cô bỏ lửng. Ba câu dặn dò của ngoại.
Cô thử nhớ lại nét chữ của ngoại. Nét chữ nắn nót ở những trang đầu là của ngoại hồi còn khỏe. Nét chữ run run ở trang cuối là của những ngày cuối đời. Giữa hai nét chữ đó là mấy chục năm. Ngoại đã giữ bí mật này một mình suốt mấy chục năm, rồi chọn cách viết lại trước khi đi. Cô bỗng thấy thương ngoại đến thắt lòng.
Tên cô đã nằm sẵn trong sổ từ bao giờ, cô không biết. Bà ngoại viết dòng đó lúc nào, với tâm trạng ra sao, cô cũng không biết. Cô tự hỏi, nếu hôm nay mình không dọn buồng ngoại, bao giờ mình mới biết tới cuốn sổ này? Hay má định giấu cô tới tận rằm tháng bảy? Nhưng cô biết một điều: trước rằm tháng bảy, cô phải tự tìm ra sự thật. Cô không thể cứ nhắm mắt đưa chân như vậy được.
Ngoài kia, Vàm Đen vỗ bờ đều đều. Diễm chợt nhớ tới tiếng lược sột soạt đêm rằm, rùng mình một cái rồi kéo chăn lên kín hơn. Cô nhắm mắt lại, nhưng tiếng sột soạt vẫn vang lên trong đầu không chịu dứt. Bỗng thấy lạnh dù trời đang nóng nực.
Đọc Truyện Cùng Su