Đọc Truyện Cùng Su
← Cà Phê Vợt Đầu Hẻm

Chương 3

Qua ngày hôm sau, quán hết đường, tui qua tạp hóa của bà Năm mua chịu một bao đường với ít cà phê hột. Tạp hóa của bà nhỏ xíu, cái kệ gỗ chất đủ thứ, từ hũ kẹo, mấy bao thuốc lá cho tới chai dầu ăn, cuốn sổ ghi nợ của cả hẻm treo trên vách bằng một sợi dây. Tờ giấy ngoài cột điện mới dán mấy bữa mà chữ đỏ đã bắt đầu lem vì sương. Mới có 3 ngày mà trong hẻm, nhà nào cũng như đã tính xong đường đi nước bước của nhà nấy, chỉ có mình tui là chưa tính được gì cho ra hồn. Bà Năm lôi cuốn sổ ghi nợ treo trên vách xuống, ghi cho tui một dòng, nói chừng nào có thì trả, không có gì gấp. Bà vừa cân đường vừa ngó tui, hỏi một câu trúng ngay chỗ tui đang giấu:

- Nghe nói bữa qua cô qua nhà bà Sáu, bị bà đóng cửa trước mặt hả cô Bảy? Tui cười trừ, tính nói cho qua, mà nghĩ lại, chuyện này tui giấu một mình cũng không giải quyết được gì. Bà Năm ở cái hẻm này mấy chục năm, chuyện nhà ai bà cũng biết. Tui kể thiệt cho bà nghe chuyện tờ giấy của ba chồng tui, chuyện đất cái quán là đất mượn của bà Sáu từ năm 1971, chuyện tui qua hỏi thì bà né. Bà Năm nghe xong, đặt cái cân xuống, nói tỉnh bơ:

- Trời, chuyện đó có gì lạ đâu. Đất đầu hẻm là đất của bà Sáu, người lớn trong hẻm ai mà không biết. Hồi xưa ông Ba mượn miệng mở quán, ở được hai chục năm êm ru, có ai nói năng gì đâu.

- Vậy là thiệt hả bà? Con cứ tưởng…

- Thiệt chớ sao không. Mà cô nghe bà nói nè, mượn miệng là mượn miệng, không có một miếng giấy nào hết. Mai mốt có chuyện gì, cô cứ ở lì đó, ai làm gì được cô. Giấy tờ không có, nhân chứng thì người còn người mất, cô không đi thì trời cũng không kéo cô đi được.

- Còn nhà bà, bà tính sao? Nghe nói mé nhà bà cũng dính vô diện đó.

- Nhà bà dính có một khúc sân thôi. Mà bà thì có con gái ở tuốt quận bên, nó biểu bà dọn qua ở với nó hoài, bà chưa chịu đi đó chớ. Còn cô, một thân một mình nuôi thằng nhỏ, cái quán là kế sinh nhai, cô dọn đi đâu được mà dọn. Bà khuyên thiệt lòng đó cô Bảy, thời buổi này, ai lo thân nấy trước đã.

Tui nghe bà nói mà tay cầm bịch đường đứng khựng. Cái ý ở lì, thiệt tình là từ hôm biết chuyện tới giờ, trong đầu tui nó cũng có ghé qua một hai lần, ghé qua rồi tui tự gạt đi. Nay nghe bà Năm nói ra rành rọt, tui mới thấy nó vừa dễ vừa gần: chỉ cần mình không đi, cái quán còn đó, hai mẹ con còn chỗ chui ra chui vô. Bà Năm thấy tui im, bà nói tiếp, giọng nhỏ xuống như nói chuyện nhà mình:

- Mà cô tính coi, bà Sáu đòi đất lại lúc này để làm gì? Thằng Đức cháu bà bệnh tim từ nhỏ, bác sĩ nói phải mổ mới mong khỏe được. Tiền mổ cho nó, bà nghe mà hết hồn, bằng mấy chục năm cô bán cà phê đó. Bà Sáu dành dụm mấy năm nay, thằng Phương ba nó làm mộc ở xa gửi về từng đồng, mà gom hoài không đủ. Nghe đâu bà tính bán đất, có đất bán mới có tiền cho cháu đi mổ. Thằng nhỏ sinh ra đã yếu tim, môi nó hay tím, chạy nhảy một chút là ngồi thở hổn hển. Mấy năm nay, đồ đạc trong nhà bà Sáu, cái gì bán được là bà bán từ từ, bán lặng lẽ không ai hay. Có bữa nửa đêm nó lên cơn khó thở, bà già 68 tuổi ôm nó chạy bộ ra trạm xá, cả hẻm nghe tiếng bà kêu cứu mà rợn người.

- Sao bà không mở miệng nói một tiếng với cả hẻm? Người góp một ít, nhiều người lại cũng đỡ được phần nào chớ bà. Bà Năm lắc đầu, cười khan một cái:

- Cô về hẻm này tám năm chớ bà Sáu ở đây cả một đời người. Cái tính của bà, thà bán đất bán nhà chớ không mở miệng xin ai một đồng. Hồi ông Sáu mất, nhà neo người, ai biểu giúp, bà cũng lắc đầu. Cô coi, tới nước này rồi mà bà còn đóng cửa im ỉm đó, có than với ai một tiếng nào đâu.

Tui nghe tới đó, trong đầu hiện lên tiếng ho khan của thằng nhỏ sau cánh cửa khép, hiện lên chén cháo tui che lồng bàn để trên bếp hôm qua. Hóa ra bà Sáu tránh mặt tui, không hẳn vì chuyện đất. Bà đang ôm một chuyện lớn hơn nhiều, chuyện sống còn của đứa cháu nội.

Trưa đó về quán, khách ngồi mấy bàn, ai cũng bàn chuyện dán giấy. Có người nói nhà mình ngoài diện nên khỏe re, có người lo không biết tính sao, lại có người nói nghe đâu đất đầu hẻm này sắp lên giá, ai có đất trong tay là trúng lớn. Ông Chín ngồi uống cà phê như mọi bữa, nghe hết từ đầu tới cuối mà không nói một tiếng nào. Tui rót thêm cho ông nửa ly, sẵn miệng kể lại chuyện bà Năm nói. Có ông khách ngồi bàn bên nghe được, chen vô một câu:

- Ở lì là phải rồi cô Bảy. Thời buổi này, ai dại gì mà dọn đi trước. Ông Chín nghe xong, gật gù, chống cây gậy xuống nền gạch mấy cái rồi mới nói:

- Con Năm nó nói không sai đâu con. Ở cái thời này, giấy tờ là vua. Mượn miệng mấy chục năm, không giấy thì coi như không có. Con cứ ở, bán cà phê nuôi thằng Bin, ai biểu con đi con cũng đừng đi.

- Nhưng mà ông Chín, đất là của người ta, ba con mượn của người ta…

- Ơn nghĩa là chuyện của đời ông Ba con. Con ở cho tới khi nào người ta giải tỏa thiệt, lúc đó nhà nước tính sao hay vậy. Chớ con dọn đi bây giờ, hai mẹ con con ra đường ở hả? Ông ngừng một chút, giọng chậm lại:

- Ông biết trong bụng con đang nghĩ cái gì. Mà con nghĩ cho thằng Bin nữa, nó còn nhỏ lắm con. Ông nói xong thì cầm ly cà phê lên uống, mắt nhìn ra ngoài đầu hẻm. Tui đứng ở quầy, tay cầm cái vợt còn ướt, không biết nói lại câu nào cho phải. Câu nào của ông cũng có lý, mà sao tui nghe xong, bụng dạ còn rối hơn lúc chưa nghe. Người ta khuyên ở lì, ai cũng khuyên, mà khuyên toàn bằng cái lý nghe qua là xuôi tai liền. Tui rót cà phê cho khách, tay làm miệng cười, trong đầu thì cứ quay đi quay lại một ý: nhà mình ở trên đất người ta 20 năm, ăn nên làm ra cũng nhờ cái đất đó, giờ biết cháu người ta bệnh nặng, cần tiền mổ, mà tiền đó nằm ngay dưới chân quán mình, mình ở lì cho đành lòng sao được. Tui cũng thử ngồi tính đường dọn đi cho biết: mặt bằng ở mấy con hẻm gần đây, chỗ nào rẻ thì khuất trong khuất ngoài, chỗ nào sáng sủa thì tiền thuê một tháng nuốt trọn tiền lời của quán, mà khách quen mấy chục năm đâu có theo mình qua chỗ mới được. Đường nào tính ra cũng thấy bí, mà bí nhất vẫn là cái bụng dạ của mình.

Chiều đó, tui nấu một nồi cháo cá mới, cá lóc mua hồi sáng, gỡ xương thiệt kỹ, nêm cho vừa miệng con nít. Tui múc ra tô, biểu thằng Bin bưng qua nhà bà Sáu cho anh Đức của nó. Tui dặn nó gõ cửa đàng hoàng, nói là má gửi cho anh Đức ăn lấy sức. Nó bưng tô cháo đi thiệt chậm, hai tay ôm cái khay như bữa nó phụ tui ở quán. Một hồi sau nó chạy về, mặt mày kể lể như người lớn:

- Bà Sáu mở cửa cho con vô nhà đó má. Anh Đức nằm trên giường, ốm nhom, mặt tái mét hà. Ảnh ăn cháo của má, ăn được nửa tô, ảnh nói má nấu ngon. Ảnh hỏi con đi học có vui không, ảnh nói ảnh cũng muốn đi học như con mà nội không cho, nội nói ảnh mệt. Đầu giường ảnh có con diều giấy làm dở, ảnh biểu chừng nào ảnh khỏe, ảnh ra sân thả diều chung với con.

- Rồi bà Sáu có nói gì không con?

- Bà cho con trái ổi, bà biểu con về nói má đừng qua nữa, nhà bà không có gì đâu. Thằng nhỏ nói xong thì chạy ra sân chơi tiếp, vô tư như không. Còn tui đứng ở quầy, nghe câu đừng qua nữa mà trong lòng nó chùng xuống. Bà Sáu càng đẩy tui ra xa, tui càng thấy rõ bà đang khổ một mình trong cái nhà cửa khép đó.

Gần tối, có chuyến xe đò về tới đầu hẻm. Một người đàn ông bước xuống, gầy rạc, áo sơ mi sờn cổ, vai đeo cái túi vải bạc màu, tay xách thêm bịch đồ nghề mộc. Cái áo sơ mi mặc trên người anh nó lùng thùng như áo mượn, nhìn là biết người sút ký đã lâu chớ không phải mới một hai bữa. Thằng Bin chạy vô quán la lên:

- Má, ba của anh Đức về kìa má! Tui bước ra cửa quán ngó qua. Anh Phương, ba của thằng Đức, đi thẳng vô nhà bà Sáu. Mấy người hàng xóm đi ngang cũng dừng lại ngó. Bà Năm đứng trước cửa tạp hóa, nhìn theo anh, lắc đầu nói nhỏ một câu:

- Thằng đó, nó lo cho con nó tới sắp kiệt sức rồi. Cửa nhà bà lần này mở ra ngay, không khép hờ như mọi bữa. Tui thấy anh ngồi xuống bậc cửa, ôm thằng Đức vô lòng, thằng nhỏ ôm cổ ba nó cứng ngắc, không chịu buông. Anh lấy trong túi áo ra một gói nhỏ gói bằng khăn tay, dúi vô tay bà Sáu, nói gì nhỏ nhỏ, tui đứng xa nghe không rõ. Bà Sáu cầm gói khăn, đứng im một hồi lâu, rồi quay mặt vô trong, đưa tay lên chùi mắt. Anh Phương ở lại với con được một chập, ăn vội chén cơm, rồi lại xách túi lên vai, ra đầu hẻm đón xe đò đi tiếp. Ra tới cửa, anh còn quay lại ngó thằng Đức một cái thiệt lâu, như ráng nhớ cho kỹ cái mặt của nó để dành cho mấy tháng sắp tới ở xa. Bà Sáu đứng sau lưng thằng Đức, tay đặt lên vai nó, hai bà cháu đứng im, không ai vẫy tay. Thằng Đức đứng ở cửa, vịn khung cửa mà nhìn theo, nhìn tới khi cái xe khuất đầu hẻm, rồi nó ho lên một cơn dài. Bà Sáu bước ra, đưa tay dìu nó vô trong, cánh cửa nhà bà lại khép lại như mọi bữa.

Tui quay vô quán, dọn dẹp, rửa vợt, đầu óc để hết ở cái bậc cửa nhà bên đó. Tối đó, tui mở cuốn sổ của quán ra tính tiền, cộng tới cộng lui. Số tiền dành dụm của hai mẹ con sau mấy năm bán cà phê, đem so với tiền mổ của thằng nhỏ như người ta nói, nó thiệt như muối bỏ biển. Tui đóng cuốn sổ lại, ngồi một mình trong cái quán tối. Người ta khuyên tui ở lì, lý nào cũng xuôi, đường nào cũng dễ. Mà mỗi lần tui tính nghe theo, trong đầu lại hiện lên cảnh thằng nhỏ vịn cửa ho nhìn theo xe của ba nó. Ở lì thì giữ được quán, chuyện đó tui biết. Nhưng mà giữ quán kiểu đó, từ nay mỗi buổi sáng pha cà phê, tui lấy mặt mũi nào mà nhìn qua cái nhà sát vách.