Đọc Truyện Cùng Su
← Ba Tiếng Gõ

Chương 10

Buổi chiều hôm đó, cả nhà vắng. Ba ra đồng, má đi chợ chiều chưa về. Chỉ còn Loan và ông nội ở nhà.

Loan pha một ly nước ấm, mang ra bộ ván ngồi xuống bên cạnh ông. Ông đang nhìn ra sân, mắt mờ đục như mọi ngày. Cô đặt ly nước vào tay ông, khẽ nói:

- Nội, hồi xưa ngoài miếng đất… có phải có một cái chòi lá không nội? Cửa chòi cài then từ bên ngoài…

Bàn tay ông khựng lại giữa không trung.

Rồi, chậm rãi, ông quay sang nhìn cô. Ánh mắt mờ đục bao nhiêu ngày nay bỗng trở nên trong lại, tỉnh táo một cách lạ lùng. Loan nín thở. Cô biết những khoảnh khắc tỉnh táo của ông rất hiếm, và không biết nó kéo dài được bao lâu.

- Chòi… chòi giữ miếu…

Giọng ông khàn khàn, đứt quãng, nhưng rõ ràng hơn mọi lần. Loan khẽ rùng mình. Chính miệng ông đã nói ra cái tên mà cô chưa dám gọi thành lời.

- Nội nhớ không nội? Hồi nội còn nhỏ đó, năm đói đó.

Ông nội nhìn cô một lúc lâu, rồi gật đầu, rất chậm.

- Nhớ… tao nhớ hết…

Đó là lần đầu tiên sau nhiều ngày, ông nói một câu trọn vẹn. Loan nắm lấy bàn tay gầy guộc của ông, nhẹ nhàng:

- Nội kể cho con nghe đi nội. Chuyện hồi năm đói đó. Chuyện của ông Năm.

Nghe tới tên chú Năm, tay ông run lên. Ông im lặng rất lâu, mắt nhìn xa xăm về phía cổng, như đang nhìn về một nơi cách đây hơn 80 năm. Rồi ông bắt đầu kể, giọng đứt quãng, có lúc phải dừng lại thở dốc, có lúc lại chìm vào im lặng rất lâu mới nói tiếp được.

- Năm đó… đói lắm. Nhà nào cũng đói. Tao 10 tuổi… gầy như que củi… cả ngày chỉ nghĩ tới ăn…

Ông ngừng lại, nuốt khan. Loan rót thêm nước ấm, đưa lên miệng ông. Ông uống một ngụm nhỏ.

- Chú Năm… chú Năm tao… ổng hiền lắm. Hiền như cục đất vậy đó. Ai trong xóm cũng thương ổng.

- Rồi sao nữa nội? Sao chú Năm lại…

- Người ta đồn… đồn ổng ăn cắp lúa của họ… trong năm đói…

Giọng ông lạc đi. Rồi ông nắm chặt tay Loan, như sực nhớ ra điều gì:

- Mà… đêm đó tao nghe thấy… ba tao nói với mấy người kia… cứ nói nó ăn cắp lúa của họ… nói cho cả xóm nghe…

Loan nín thở. Đúng như lời bà Sáu kể. Nhưng giờ cô đã biết lời đồn đó từ đâu mà ra.

- Một bữa… tao thấy người ta lôi chú Năm ra cái chòi ngoài miếng đất… nhốt ổng vô đó… cửa cài then từ bên ngoài… ổng đập cửa… ổng kêu…

Tay ông bấu chặt lấy tay Loan. Mắt ông mở to, như đang thấy lại cảnh tượng đó trước mặt.

- Mấy bữa sau… tao lén ra đó… nghe tiếng gõ từ bên trong… yếu lắm… cộc… cộc… rồi… rồi im luôn…

Ông ngừng lại, thở hổn hển. Nước mắt bắt đầu ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo của ông.

- Nội, nội nghỉ một chút đi nội.

Loan vỗ nhẹ lưng ông, nhưng ông lắc đầu, cố nói tiếp như sợ nếu dừng lại thì sẽ không bao giờ nói ra được nữa.

- Tao sợ… tao chạy về… không dám nói với ai… mấy bữa sau nữa… người ta nói chú Năm bỏ xứ đi rồi…

- Nhưng nội biết chú Năm không bỏ đi, phải không nội?

Ông gật đầu, nước mắt lăn dài xuống gò má:

- Ổng… ổng c.h.ết trong đó… tao biết… nhưng tao không dám nói…

Một khoảng im lặng dài. Chỉ có tiếng gió lùa qua kẽ lá ngoài sân, và tiếng thở dốc của ông nội.

- Ba tao… ổng biết tao thấy hết… ổng gọi tao lại… ổng nhìn tao… ổng nói… mày mà hé răng nửa lời…

Ông không nói hết câu. Nhưng Loan hiểu. Một đứa trẻ 10 tuổi, đói lả, chứng kiến tội ác của chính ba mình, lại bị chính người đó dọa dẫm, làm sao dám hé răng.

- Sau đó thì sao hả nội? Cái miếu…

- Ổng cho dỡ cái miếu cũ… dựng cái miếu mới ngay chỗ cái chòi đó… đặt bài vị chú Năm lên bàn thờ… Rồi ổng nói với cả nhà… đó là lệ giữ đất… nghe tiếng gõ thì đừng mở… đừng động vào miếu… ai trái lời thì…

Ông ngừng lại, mệt lả. Loan đỡ ông nằm xuống bộ ván, kê gối cho ông.

- Ba tao sau này cũng dặn đi dặn lại mấy lời đó… rồi tao… tao dặn lại cho bà nội mày… tao dặn nó phải dặn con dâu…

Giọng ông nhỏ dần. Ánh mắt tỉnh táo trong mắt ông mờ dần, trở lại vẻ ngơ ngác thường ngày. Ông nhìn cô, móm mém cười như không nhớ mình vừa kể chuyện gì, rồi thiếp đi.

Loan ngồi lặng bên cạnh ông rất lâu. Ngoài sân, nắng chiều đã ngả sang màu vàng úa. Trong đầu cô, những mảnh ghép bắt đầu khớp vào nhau, dù vẫn còn những khoảng trống chưa ai lấp được.

Điều ông nội thấy tận mắt thì đã rõ: chú Năm bị vu ăn cắp lúa, bị lôi ra chòi nhốt lại, cửa cài then từ bên ngoài. Mấy hôm sau, tiếng gõ yếu dần rồi im hẳn. Sau đó, chính ba ông, cụ Tứ, cho dỡ miếu cũ dựng miếu mới ngay trên nền đất đó, đặt bài vị chú Năm lên thờ, rồi đặt ra những lời kiêng: nghe tiếng gõ thì đừng mở, đừng động vào miếu. Những lời kiêng đó truyền từ cụ Tứ qua ông Hiền, tới bà nội, tới má cô, như một thứ lệ làng không ai dám cãi. Bà Sáu nói hồi trước không có miếu, nhưng bà khi đó mới 4 tuổi, nhớ sai cũng dễ hiểu. Ông nội cô 10 tuổi, tận mắt thấy người ta dỡ miếu cũ dựng miếu mới. Cô tin ông nội.

Còn những điều cô chỉ dám linh cảm: rằng lời đồn ăn cắp là do cụ Tứ dựng lên để chiếm miếng đất của em ruột. Rằng cái miếu dựng lên không phải để thờ mà để che mắt cả họ. Rằng ổng lập bài vị không phải vì thương em, mà vừa sợ oan hồn quấy phá nên phải thờ để trấn, vừa cần cái miếu làm vỏ bọc cho cả họ tin vào chuyện tạ ơn trời đất. Cô chưa có bằng chứng cho những điều này. Nhưng mọi thứ cô thấy đều chỉ về một hướng.

Và ông nội cô, một đứa trẻ 10 tuổi năm đó, đã chứng kiến tất cả mà không dám nói một lời, rồi mang bí mật đó đi suốt hơn 80 năm trời.

Cô nhìn ông nội đang ngủ say bên cạnh, hơi thở khò khè, khuôn mặt nhăn nheo bình thản như một đứa trẻ. Lòng cô dâng lên một nỗi xót xa khó tả. Ông không phải kẻ ác. Ông chỉ là một đứa trẻ bị chính ba mình dọa sợ, rồi mang nỗi sợ đó đi suốt cả cuộc đời, đến già vẫn còn nói mớ: đừng để nó đói nữa.

Loan khẽ đắp lại cái mền cho ông. Đã 9 ngày kể từ hôm cô về quê. Phép cô xin chỉ có một tuần, hai hôm nay điện thoại im lặng một cách đáng ngờ. Cuối tuần này cả họ họp lại để chốt chuyện bán đất, mà cô vẫn chưa có câu trả lời cho bất cứ việc nào.

Cô biết mình phải làm gì tiếp theo. Nhưng trước hết, cô cần thêm thời gian.