Đọc Truyện Cùng Su
← Tổng Đài Nửa Đêm

Chương 1

Rạng sáng ngày 2, ca trực đêm thứ 612 của Diễm My bắt đầu bằng một cuộc gọi không số, lúc 3 giờ sáng, và người ở đầu dây bên kia khóc bằng đúng giọng của cô.

Phòng tổng đài tầng 4 chỉ còn một mình cô với dãy bàn dài, 6 cái tai nghe treo ngay ngắn trên vách và cái quạt trần quay chậm tới mức nhìn lâu là buồn ngủ. Công việc của My là ngồi đây từ 10 giờ đêm tới 6 giờ sáng, nghe người ta trút đủ thứ chuyện không nói được với ai vào ban ngày: người già mất ngủ cần có tiếng người trong nhà, người say gọi nhầm số vợ cũ, người đang đứng trên cầu gọi tới chỉ để nghe một giọng bình tĩnh bảo họ ngồi xuống. My nghe giỏi, nhớ cũng giỏi. Có người gọi cách đây 4 tháng, kể chuyện con mèo cam tên Mướp bị xe cán, hôm qua gọi lại, cô vẫn hỏi thăm đúng câu chuyện dở dang của người ta. Chị Bảy Thu, tổ trưởng ca, hay nói đùa là tổng đài này tuyển My về để làm cái kho chứa chuyện thiên hạ.

Cuộc gọi trước đó kết thúc lúc 2 giờ 58 phút. Người gọi là một bà cụ ở quận 8, gọi lần thứ 9 trong tháng, lần nào cũng một lý do: cụ mất ngủ, con cháu ngủ hết, cụ cần nghe tiếng người cho đỡ sợ cái nhà im lặng. My không cần nhìn hồ sơ cũng biết cụ có 3 đứa con, đứa út làm ăn ở Bình Dương, và cụ sợ nhất là tiếng tích tắc của cái đồng hồ quả lắc trong phòng khách. Trước lúc cúp máy, cô đã ngồi nói chuyện với cụ thêm 6 phút, toàn chuyện không đâu: giá rau muống ngoài chợ, con mèo nhà cụ mới đẻ 4 con, chuyện tuần rồi cụ đi khám huyết áp. Tới khi giọng cụ nhỏ dần rồi đều đều, My mới khẽ khàng cúp máy, ghi vào sổ ca đúng một dòng như mọi lần: người gọi đã ngủ, không cần chuyển tuyến. Cái kho chứa chuyện thiên hạ của chị Bảy Thu nói, phần lớn là những chuyện như vậy, nhỏ xíu, không ai cần, trừ người đang kể lúc 3 giờ sáng.

Cuộc gọi không số hiện lên màn hình lúc đồng hồ vừa nhảy qua con số 3. My đeo tai nghe, bấm nhận, đọc câu mở đầu đã thuộc tới mức không cần nghĩ: tổng đài xin nghe, có chuyện gì cô cứ từ từ nói. Đầu dây bên kia im lặng chừng 2 giây, rồi tiếng khóc bật ra, nấc lên từng đợt, là giọng của một người đàn bà đang cố kìm mà kìm không nổi. My hơi nghiêng người về phía màn hình. Giọng khóc đó nghe quen một cách vô lý, quen như giọng cô vẫn nghe lại trong mấy đoạn ghi âm kiểm tra chất lượng mỗi cuối tháng, chỉ khác là cô chưa bao giờ khóc kiểu đó vào điện thoại của ai.

- Chị ơi, cứu em với.

My nhìn chằm chằm vào dòng số trống trên màn hình. Người gọi là nữ, giọng miền Nam, và càng nghe cô càng lạnh gáy, vì đó không phải giọng giống cô, đó là giọng cô, từng chữ một, kể cả cái tật kéo dài chữ cuối câu khi mệt.

- Em là Diễm My, giọng bên kia nói, vẫn còn nấc. Chị cũng là Diễm My.

Phản ứng đầu tiên của My là ngó quanh phòng, xem có đứa đồng nghiệp nào trốn ở đâu giở trò. Phòng trống trơn, cửa kính khóa, dãy bàn bên kia tối om vì cả ca đêm nay chỉ có 2 người trực, mà người còn lại đã xin về từ 1 giờ sáng vì con ốm. My quay lại màn hình, hạ giọng xuống đúng cái giọng cô vẫn dùng cho những người gọi đang hoảng: bình tĩnh, chuyện gì cũng nói được, em đang ở đâu, có an toàn không. Giọng ở đầu dây bỗng im bặt giữa một tiếng nấc, im một cách không tự nhiên, như có ai vừa bấm nút tắt tiếng khóc. Rồi nó nói tiếp, vẫn là giọng cô, nhưng phẳng lặng, đều đều, không còn chút cảm xúc nào.

- Người được chọn: Diễm My, 33 tuổi, nhân viên trực tổng đài ca đêm. Tai nạn đã định: chuyến xe về quê lúc 21 giờ 30 đêm ngày 5, ghế 14. Người được chọn sẽ c.h.ết tại đoạn đèo, lúc 4 giờ 20 phút sáng ngày 6.

My bật cười khan một tiếng. Ghế 14. Hồi chiều, trước giờ vào ca, cô ngồi ở cầu thang thoát hiểm đặt vé xe trên điện thoại, chọn ghế 14 vì nó gần cửa mà không sát bánh xe, đặt xong chưa kịp nói với ai, kể cả mẹ. Chuyến xe đó chạy lúc 21 giờ 30, về quê để sáng hôm sau cô đưa mẹ đi mổ khớp gối ở bệnh viện tỉnh. Chuyện cái ghế số mấy, trên đời này chỉ có cô và cái ứng dụng bán vé biết.

- Ai đang giở trò đó, My nói, và cô nghe giọng mình hơi run nên càng bực. Tổng đài có ghi âm hết đó. Giỡn kiểu này là bị đuổi việc thiệt chứ không đùa đâu.

- Đây không phải trò đùa, và cuộc gọi này không được ghi lại. Cô có thể kiểm tra.

My liếc sang góc màn hình theo thói quen. Đồng hồ thời lượng cuộc gọi đứng yên ở 00:00, thanh ghi âm xám xịt, không chạy. Cô đã nói chuyện gần 2 phút rồi. Mồ hôi rịn ra trong lòng bàn tay đang cầm con chuột. Cô bấm vài phím làm lại thao tác ghi âm, không có gì thay đổi, mọi thứ vẫn đứng yên như bức hình chụp dở.

Giọng bên kia tiếp tục nói, chậm rãi như đang đọc một tờ giấy: từ đêm nay, hệ thống Gác Đêm mở cho cô 5 ca trực đặc biệt. Mỗi đêm đúng 3 giờ sáng, cô sẽ vào lớp đêm của một người sắp c.h.ết trong đêm đó, mang thân phận của một người gác đêm có sẵn ở nơi đó. Việc của cô là giữ người ấy sống tới 5 giờ sáng. Mỗi người cô giữ được, tai nạn của cô lùi lại đúng 1 ngày. Chỉ có một điều cấm tuyệt đối: cô không được nói cho bất kỳ ai biết mình là ai, vì sao mình tới, và không được nhắc tới hệ thống này. Nói trọn ý cấm, ca trực đó sụp ngay, người đang được gác c.h.ết theo lịch cũ. Nếu mới hé một phần rồi dừng lại, ca còn chạy nhưng cô mất giọng tròn 1 ngày ở đời thật. Cảnh báo một nguy hiểm trước mắt bằng điều cô nhìn thấy thì không phạm luật.

My nhìn thanh ghi âm vẫn đứng yên, hỏi nếu cô giữ được người ta thì sáng ra người ta có biết không. Giọng bên kia đáp rằng người được gác chỉ giữ lại một ký ức mờ, không nhận ra mặt hay giọng thật của cô; điều còn lại rõ nhất là những thói quen họ tự quyết định đổi trong đêm đó. Mỗi người chỉ được gác 1 đêm, đồ vật không mang qua lại giữa lớp đêm và đời thật. Lớp đêm lấy cảnh và rủi ro từ đời sống thật, nhưng khoảng 3 giờ tới 5 giờ ở đó chỉ chiếm vài phút nơi cô đang ngồi. Cô không được tính chuyện rời tổng đài rồi mang vật chứng về chứng minh với ai.

- Còn nếu tui không làm, My hỏi.

- Thì không có gì thay đổi cả, giọng bên kia đáp. Đêm ngày 5, ghế 14, đoạn đèo, 4 giờ 20 phút sáng hôm sau.

My im lặng. 6 năm trực tổng đài, cô đã nghe đủ kiểu người gọi: người dọa nọ dọa kia có, người nói mình là ma cũng có, người đọc vanh vách chuyện nhà cô thì đây là lần đầu tiên. Cô nuốt nước bọt, hỏi câu mà từ nãy tới giờ cô tránh không hỏi, vì hỏi ra là coi như mình tin một nửa rồi.

- Sao lại là giọng của tui?

- Ta dùng giọng của người duy nhất cô chịu nghe.

Câu trả lời tới ngay, không ngập ngừng, và nó làm My lạnh hơn cả chuyện cái ghế số 14. Cô ngồi yên, nhìn dãy tai nghe treo trên vách. Ở quê, mẹ cô chắc đang ngủ, cái gối kê cao vì nằm thẳng là khớp gối nó nhức. Vé xe, lịch mổ, tiền viện phí còn thiếu 4 triệu, mọi thứ cô đã xếp gọn trong đầu theo đúng thứ tự, và bây giờ có một giọng nói giống hệt cô bảo là cô chỉ còn 3 ngày nữa trước chuyến xe ấy.

- Ca đầu tiên bắt đầu sau cuộc gọi này, giọng bên kia nói. Người được gác: Phạm Văn Sơn, 45 tuổi. Chúc cô trực đêm vui vẻ.

Đường dây ngắt. Không có tiếng tút tút như mọi cuộc gọi khác, chỉ có sự im lặng đột ngột tới mức tai My ù lên một chút. Màn hình trở lại bình thường, nhật ký hệ thống không hiển thị cuộc gọi cô vừa nhận. Cô ngồi thừ ra, tay vẫn để trên con chuột. Trên điện thoại cá nhân để cạnh bàn, tin nhắn của mẹ từ lúc 11 giờ đêm vẫn còn đó: con trực đêm nhớ ăn uống đàng hoàng, đừng có bỏ bữa như kỳ trước nghen con. My đọc lại tin nhắn 2 lần, rồi cô đưa tay tắt màn hình điện thoại, hít một hơi dài, tự nói với mình là thiếu ngủ sinh ảo giác, chuyện này ai trực ca đêm hoài cũng gặp, về nhà ngủ một giấc là hết.

Chuông reo lần thứ hai ngay lúc cô vừa đứng dậy định đi pha ly cà phê.

Vẫn là cuộc gọi không số. My đứng giữa phòng nhìn màn hình nhấp nháy, cái quạt trần vẫn quay chậm rãi trên đầu. Cô đeo tai nghe vào, bấm nhận, và lần này cô không đọc câu mở đầu nữa. Đầu dây bên kia không có người nói. Chỉ có tiếng mưa, rất gần, mưa quất vào mái tôn rào rào, và tiếng một vật bằng sắt vừa chạm xuống nền xi măng nghe khô khốc. Rồi một mùi xộc thẳng vào mũi cô, mùi dầu nhớt cũ trộn với mùi sắt gỉ, thứ mùi không thể nào có trong căn phòng tổng đài đóng kín cửa và mở máy lạnh 24 độ.

My chớp mắt.

Cô đang đứng trong một xưởng sửa xe.

Mái tôn trên đầu mưa dội xuống ầm ầm. Dưới chân cô là nền xi măng loang dầu, bên phải là một dãy lốp xe xếp chồng lên nhau, bên trái là chiếc xe khách cũ đang kê kích, gầm xe tối om. Cổ áo cô ướt mồ hôi dù trời mưa lạnh, và bàn tay phải của cô, bàn tay mà mấy giây trước còn trắng trẻo vì ngồi phòng máy lạnh cả đêm, giờ đen nhẻm dầu mỡ, móng tay gãy một cái. Trên ngực áo bảo hộ cô đang mặc có ghim một tấm bảng tên bằng nhựa đã cũ, ghi một cái tên không phải tên cô.

Trên vách xưởng, ngay trên cánh cửa cuốn, có một cái đồng hồ treo tường. Kim giờ chưa tới số 3, kim phút chỉ số 11. Ba giờ kém 5 phút.

Điện thoại trong túi áo bảo hộ rung lên một hồi ngắn. My lôi ra, màn hình sáng lên một dòng chữ duy nhất, không tên người gửi, không số: Ca Gác 1. Người được gác: Phạm Văn Sơn, 45 tuổi. Giữ anh ta sống tới 5 giờ sáng.

Từ trong gầm xe, một người đàn ông chui ra, áo dính đầy dầu, tay cầm cây đèn pin kẹp trên trán. Ông ta nhìn cô như thể cô vừa đi đâu đó rất lâu mới về, hất hàm về phía bộ đồ nghề treo trên vách.

- Nhỏ, ngơ ra đó làm gì. Đưa anh cây cờ lê 14 coi, mưa gió vầy ráng làm cho xong, sáng mai xe còn xuất bến sớm.

My nhìn người đàn ông đó. 45 tuổi, mặt sạm nắng, tóc hai bên thái dương đã bạc sớm, đúng cái mặt của người mà dòng chữ trong điện thoại vừa bảo cô phải giữ cho sống. Ông ta hoàn toàn không biết gì, còn đang cười vì tưởng cô đứng ngơ là do buồn ngủ.

- Mai con bé nhà anh thi thử tốt nghiệp, ông ta nói tiếp, tay quệt mồ hôi lẫn dầu trên trán. Nó mà đậu, anh nghỉ làm chủ nhật luôn một bữa, chở nó đi ăn hủ tiếu. Còn em, trực đêm riết quen mặt anh em trong xưởng hết trơn rồi đó.

Xa xa ngoài đường, sấm rền một tiếng dài. Đèn trong xưởng chớp tắt một cái rồi sáng lại. My cúi xuống lấy cây cờ lê số 14 trên khay đồ nghề, bước tới đưa cho ông ta, và trong đầu cô chỉ còn một phép tính rất rõ ràng: còn 5 phút nữa là 3 giờ, và cô có đúng 2 tiếng để giữ người đàn ông này sống, trong khi chính cô, theo lịch đã định, chỉ còn 3 ngày nữa là phải lên xe.