Chương 1
Tui vừa nhóm bếp than, mẻ cà phê vợt đầu tiên còn chưa kịp sôi thì thằng Bin chạy về, tay chỉ cột điện đầu hẻm, miệng la bai bải:
- Má ơi, người ta dán giấy đòi dỡ nhà mình kìa! Tui bỏ cái quạt mo đang quạt bếp, chạy theo nó ra đầu hẻm, vạt áo còn dính tro. Tờ giấy trắng dán ngay cột điện, chữ đỏ, có đóng dấu đàng hoàng. Xung quanh đã có năm bảy người trong hẻm đứng coi, người đọc thành tiếng, người chỉ tay vô từng dòng. Tui chen vô giữa, đọc tới đâu thì tay lạnh tới đó: khu vực đầu hẻm thuộc diện giải tỏa để mở đường, các hộ có nhà đất trong diện được báo trước hạn 60 ngày để lo thu xếp, còn lịch nhận mặt bằng từng phần sẽ có người xuống báo cụ thể.
Anh cán bộ trẻ của phường còn đứng đó, tay cầm cọ với hộp hồ, dán thêm một tờ nữa ở phía cuối hẻm. Có người hỏi dồn chuyện đền bù, hỏi nhà dỡ rồi thì người ta tính làm sao cho dân. Anh ta lắc đầu, nói cái đó ở trên còn xét, chưa có gì chắc chắn, bà con trước mắt cứ giữ cho kỹ hết giấy tờ nhà đất, tới đâu hay tới đó. Mấy người nghe xong thì im, cái im của người vừa nghe một câu trả lời mà cũng như chưa nghe gì.
60 ngày. Tui đứng đếm thầm trong bụng, đếm đi đếm lại hai ba lần như sợ mắt mình đọc lộn. Số nhà của quán tui nằm trong danh sách, căn nhà ở của hai mẹ con nằm sát sau quán cũng nằm trong đó luôn. Bà Năm bán tạp hóa kế bên níu tay tui, giọng bà run run:
- Nhà bà cũng dính nè cô Bảy. Ở mấy chục năm trời, giờ người ta kêu dọn, biết dọn đi đâu? Có người ở cuối hẻm nhà không dính diện thì mừng ra mặt, mừng xong thấy ai cũng nhìn mình thì khựng lại, cười trừ. Người dính diện thì mặt ai nấy như đưa đám. Ông Chín chống gậy đi tới, ông là khách già nhất của quán tui, coi hết tờ giấy một lượt từ trên xuống dưới, rồi mới chậm rãi nói bằng cái giọng kể chuyện xưa của ổng:
- Dán giấy là một chuyện, tới ngày dỡ là chuyện khác. Ai có giấy tờ nhà đất trong tay thì lo mà giữ cho kỹ. Mai mốt có nói chuyện với người ta cũng phải có cái đưa ra.
Tui quay về quán, khách sáng đã ngồi gần đầy mấy cái ghế đẩu. Thằng Bin ngồi ăn vội dĩa cơm nguội với miếng cá kho ở cái bàn nhỏ trong góc, ăn xong còn phải chạy đi học. Nó ngước lên hỏi tui một câu làm tui nghẹn ngang:
- Má, người ta dỡ nhà mình thiệt hả má? Dỡ rồi mình ở đâu?
- Ăn lẹ đi con, trễ học bây giờ. Chuyện người lớn, để má tính. Tui nói vậy cho nó yên bụng, chớ trong bụng tui, câu trả lời thiệt tình là tui cũng không biết. Ba năm nay, từ ngày chồng tui mất, hai mẹ con sống nhờ vô cái quán này. Tiền bán cà phê mỗi ngày, trừ tiền cà phê hột, tiền đường, tiền than, còn lại vừa đủ ăn uống, học hành cho thằng nhỏ và để dành được một ít phòng khi đau ốm. Quán mà dỡ, nhà mà dọn, tui chưa hình dung ra được ngày mai nó ra làm sao.
Khách trong quán râm ran hết chuyện dán giấy. Người thì lo không biết dọn đi đâu, người thì hỏi nhau coi có ai quen biết trên phường mà hỏi cho chắc. Tui tay pha cà phê, miệng cười nói như mọi bữa, mà đầu óc cứ để ngoài cột điện. Anh Tám thợ hồ ở trọ cuối hẻm ghé vô, ngồi xuống cái ghế đẩu ở góc quán, chỗ ngồi quen của ảnh. Ba năm nay, từ ngày tui ra quán phụ ba chồng, sáng nào ly cà phê đầu tiên của quán tui cũng là của ảnh, nắng cũng như mưa.
- Cô Bảy nghe chuyện ngoài đầu hẻm chưa?
- Nghe rồi anh. Cả cái hẻm này ai mà không nghe. Ảnh cầm ly cà phê lên, uống một ngụm, rồi nói tỉnh queo như nói chuyện trời nắng trời mưa:
- Đất có giấy tờ thì còn nói chuyện được với người ta. Cô về coi lại giấy tờ nhà cho chắc, đừng để tới chừng cần mới chạy đôn chạy đáo. Tui gật đầu, rót thêm cho ảnh nửa ly như lệ thường. Ảnh uống xong đứng dậy đi làm, túi đồ nghề đeo trên vai, đi ngang còn ngó lên cái mái tôn quán bị dột ở góc, chỗ ảnh hứa vá từ tuần trước mà bận công trình hoài chưa vá được. Có ông khách uống xong, móc túi quần rồi cười trừ với tui:
- Cô Bảy ghi sổ cho tui bữa nay nghen, cuối tháng tui trả luôn một lượt.
- Dạ, ghi rồi đó anh, anh khỏi lo. Cuốn sổ nợ của quán tui dày cui, tên ai trong hẻm cũng có mặt, có người thiếu từ tháng này qua tháng khác mà tui chưa từng đòi gắt một tiếng nào. Ở cái hẻm này, bán cà phê mà khó khăn quá thì mất khách, mà mất khách còn khổ hơn mất tiền.
Bà Năm coi giấy xong cũng ghé qua quán, đứng ở quầy mà thở dài:
- Cái hẻm này mà dỡ, cô Bảy dọn quán, bà dọn tạp hóa, rồi cả xóm biết mua bán ở đâu. Ở mấy chục năm, quen mặt nhau hết rồi. Tui rót cho bà ly cà phê mang về, không lấy tiền. Bà cầm ly đi mà cứ ngoái lại nhìn cái cột điện, như sợ tờ giấy nó đổi ý mọc thêm dòng nữa.
Tới gần trưa, khách thưa dần. Thằng Bin đi học về, quăng cái cặp lên ghế, chạy ra phụ tui bưng cà phê cho hai bàn khách còn ngồi dai. Nó bưng ly đi thiệt chậm, hai tay ôm cái khay, mặt nghiêm như đang bưng đồ cúng. Ông khách quen ngó nó mà cười:
- Thằng nhỏ lớn rồi đó cô Bảy, biết phụ má nó rồi. Nó nghe khen thì cười toe toét, phụ được một hồi, ăn vội chén cơm trưa rồi chạy qua nhà bạn chơi, để tui lại với cái quán vắng. Tui dọn quầy, rửa vợt, rồi đứng nhìn quanh quán một hồi lâu. Cái quầy gỗ này ba chồng tui tự tay đóng hồi mới mở quán, mặt quầy mòn bóng vì hai chục năm người ta đặt ly lên đó. Mấy cái ghế đẩu thấp tè, cái nào cũng có cái tích riêng của nó. Tấm bảng hiệu sơn chữ ở mặt tiền đã tróc sơn mấy chỗ, tui tính sơn lại từ hồi ông mất tới giờ mà chưa sơn, có khi nay khỏi cần sơn nữa. Rồi tui nhớ câu của ông Chín, nhớ câu của anh Tám hồi sáng. Giấy tờ nhà. Từ ngày ba chồng tui mất, xấp giấy tờ đó nằm trong tủ buồng, tui chưa mở ra coi cho hết một lần nào.
Tui vô buồng, mở cái tủ gỗ đứng ở góc, cái tủ có từ hồi tui mới về làm dâu tới giờ. Ổ khóa nhỏ, chìa khóa tui đeo chung chùm với chìa khóa quán mà cả năm không đụng tới, tra vô phải lắc lắc mấy cái mới chịu mở. Xấp giấy tờ nằm ở ngăn dưới, bọc trong miếng vải bông đã sờn, cột bằng sợi dây thun mục, đụng vô là đứt. Ba chồng tui là người kỹ tính, giấy nào cũng xếp ngay ngắn, thứ nào ra thứ đó, mép giấy còn ghi chú bằng chữ viết tay của ổng. Tui ngồi xuống nền nhà, mở từng tờ ra coi: giấy khai sinh của thằng Bin, tờ hộ khẩu nhàu ở một góc, mấy tờ giấy phép bán hàng cũ đã vàng khè. Tờ giấy phép đầu tiên còn có chữ ký của ba chồng tui, nét chữ cứng cáp, không run tay như mấy năm cuối. Hồi ổng còn sống, ổng hay dặn tui, sổ sách quán phải rõ ràng, đồng nào ra đồng đó, đừng để ai nói mình ăn gian một xu. Tui lật thiệt chậm, tờ nào cũng đọc cho hết, mà lật tới đâu lòng chùng tới đó: giấy gì cũng có, chỉ không có một tờ nào là giấy chủ quyền của căn nhà này. Bụng dạ tui chỉ mong thấy một tờ như vậy, để tui còn có cái mà yên lòng.
Rồi tới một tờ giấy lẻ nằm gần cuối xấp. Tờ giấy mỏng, không đóng dấu đỏ, không có chữ ký của cơ quan nào hết, chỉ có nét chữ viết tay của ba chồng tui, mực đã nhòe ở mấy chỗ: “Năm 1971, mượn đất đầu hẻm của bà Sáu để mở quán cà phê. Đất là của người ta, nhà mình chỉ mượn mà dùng, nhớ cho kỹ.”
Tui đọc câu đó ba lần. Lần đầu đọc cho biết mặt chữ, lần thứ hai đọc cho hiểu, lần thứ ba đọc mà tay bắt đầu run. Đất mượn. Cái quán tui đứng bán mỗi ngày, căn nhà hai mẹ con tui ngủ mỗi đêm, cái nền đất tui quét mỗi buổi sáng, hết thảy đứng trên đất của bà Sáu ở sát vách. Tám năm, từ ngày tui về làm dâu tới giờ, không một người nào trong cái nhà này nói với tui một tiếng về chuyện đó. Ba chồng tui mất hồi năm ngoái, mang theo luôn câu trả lời. Chồng tui thì mất trước đó nữa. Có khi nào chồng tui cũng không biết, y như tui không? Câu hỏi đó, người trả lời được thì đã nằm yên dưới đất hết rồi.
Tui nhớ hồi mới về làm dâu, ba chồng tui dẫn tui ra quán, tay ổng đặt lên cái quầy gỗ, nói một câu mà tui nhớ tới giờ:
- Cái quán này là cơm áo của nhà mình đó con. Giữ cho khéo. Hồi đó tui nghe mà mừng thầm, tưởng đâu ông giao hết cơ nghiệp cho vợ chồng tui. Bây giờ nghĩ lại, ổng nói cái quán là cơm áo, ổng có nói tiếng nào tới đất đâu. Người già nói chuyện, chữ nào cũng có chỗ để của nó, chỉ tại người trẻ nghe không ra.
Tui đứng dậy, ra sân sau rửa mặt cho tỉnh người. Sân sau nhà tui với sân nhà bà Sáu chỉ cách nhau một cái hàng rào thấp, đứng bên này nhìn qua thấy hết bên kia. Bà Sáu nổi tiếng khó tính trong hẻm, nói năng cộc lốc, ai mượn đồ mà trả trễ là bà la cho một trận nghe chơi. Vậy mà thằng Bin chạy qua chơi, bà hay dúi cho nó khi thì trái ổi, khi thì củ khoai luộc, nó cầm về khoe má hoài. Tám năm làm hàng xóm sát vách, ăn ở với nhau đâu có gì tệ, tui thiệt tình không hiểu sao chuyện lớn như vậy mà không một ai hé răng với tui một tiếng nào.
Tui gấp tờ giấy lại, gấp hoài hai ba lượt mà nếp giấy cứ lệch, tay tui nó không còn nghe lời tui nữa. Tui bỏ tờ giấy vô túi áo, ra quán bán tiếp buổi chiều, cười nói với khách như không có chuyện gì, mà trong túi áo, tờ giấy mỏng nó nặng như cục đá. Bữa cơm chiều, thằng Bin thấy tui ăn có nửa chén thì ngước lên hỏi:
- Má, sao bữa nay má ăn ít dạ?
- Má no rồi. Con ăn đi, cá kho còn nhiều, ăn cho mau lớn. Tui gắp cho nó miếng cá bự nhất trong nồi, nhìn nó ăn ngon lành mà không nuốt nổi miếng cơm của mình. Nó đâu có biết, cái nhà nó đang ngồi ăn cơm đây, đếm tới đếm lui chỉ còn 60 bữa cơm nữa là phải dọn.
Chiều xuống, tui nhìn qua phía nhà bà Sáu: cửa đóng im ỉm, sân trước không một bóng người, bếp nhà bà mọi bữa khói lên từ sớm, bữa nay cũng không thấy khói. Sáng mai, tui phải qua bên đó, hỏi bà cho ra lẽ. Người ta mượn nhau cái nồi, cái chén, còn biết đường đem trả cho đúng. Còn tui, ở trên đất người ta tám năm trời, tới ngày người ta dán giấy dỡ nhà mới hay mình là khách.
Đọc Truyện Cùng Su